Search

thinkvietnam

Albert Einstein — 'What is right is not always popular and what is popular is not always right.'

VIỆT NAM NÊN THAY ĐỔI CÁCH TIẾP CẬN ĐỐI VỚI LÀO VÀ CAMBODIA

 

Đầu tháng trước, báo chí Cambodia và Việt Nam sôi nổi bàn luận xung quanh một cuộc tranh luận trên mạng xã hội của thủ tướng Cambodia Hun Sen khi ông đưa ra tuyên bố đáp lại cáo buộc của một fabooker người Việt rằng ông đã “phản bội” Việt Nam: “Anh cần biết rằng tôi trung thành với người Cambodia, với đức vua, với người vợ yêu dấu. Việt Nam không phải là chủ của tôi”, theo tờ the Phnom Penh Post. Khi nói những lời này, có lẽ ông đã quên bài phát biểu tháng 12.2013 ở Hà Nội, trước 500 cựu quân nhân tình nguyện Việt Nam.

Hun Sen: “Việt Nam không phải vua của tôi” (ảnh: The Phnom Penh Post)

Điều gì đang diễn ra ở Cambodia

Vị  thủ tướng sở hữu tài khoản facebook với hơn 5 triệu người “like” này, rất coi trọng mạng xã hội. Vì thế động thái này là một bức thông điệp chính trị đa nghĩa. Ông hướng đến, không chỉ là chỉ trích của người Việt về thái độ ngả về phía Beijing một cách lộ liễu, mà chủ yếu là độc giả Cambodia, những người (đặc biệt là phe đối lập, đảng Sam Riansy) luôn coi Hun Sen là người được Việt Nam dựng lên, và sử dụng lập luận này như con bài thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc trong nước, tìm kiếm sự ủng hộ nhằm thay thế chính phủ cầm quyền hiện nay.

Rõ ràng Hun Sen, một trong các thủ tướng tại vị lâu nhất thế giới, đang bị sức ép từ nhiều phía, và để củng cố địa vị kinh tế, chính trị của mình thì “hy sinh” mối quan hệ đồng minh xưa cũ là điều cần thiết. Động thái này diễn ra cùng lúc với tình hình chính trị ở Cambodia với nhiều diễn biến phức tạp. Đảng đối lập Sam Riansy đang lợi dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan để thu hút dân chúng, trong đó có các cuộc biểu tình hàng chục nghìn người tham dự. Đối tượng mà chúng hướng đến chính là Việt Nam, bằng cách kích động tâm lí chống người Việt, Việt kiều, và khơi dậy các tuyên bố sai trái về biên giới và lãnh thổ.

Nạn nhân đầu tiên là các Việt Kiều, những người sinh sống nhiều thế hệ trên biển Hồ bị kỳ thị và xua đuổi. Có ít nhất 2,000 người đã phải rời bỏ khu vực này để về vùng hồ Dầu Tiếng và đầu nguồn sông Sài Gòn. Con số này chưa có dấu hiện dừng lại.

Việt Nam dường như chưa theo dịp các diễn biến kinh tế và chính trị trong khu vực

 Chất vấn của facebooker về sự “phản bội” của Hun Sen là sự kiện mới nhất trong một chuỗi những phản ứng của người Việt Nam trong vài năm gần đây về thái độ và cách hành xử của Cambodia (và phần nào đó là Lào) ngày càng nhích dần về phía Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến biển Đông, xây dựng đập thủy điện… Đây là hai nước luôn được mô tả là đồng minh truyền thống thân cận của Việt Nam, vì thế nhiều người Việt tỏ ra bất ngờ, thất vọng, và giận dữ về cách hành xử này. Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn lại những gì đang diễn ra ở các nước này hơn một thập kỷ qua, những điều này là hoàn toàn không bất ngờ. Và vì thế, đã đến lúc Việt Nam cần có một tiếp cận mới đối với các nước láng giềng.

Nhiều cuộc khảo sát cho thấy người Việt nhận thức khá mơ hồ về ASEAN và các cơ hội mà cộng đồng khu vực này mang lại. Điều này đặc biệt được phản ánh từ cách thức người Việt Nam cập nhật thông tin về các nước láng giềng vốn phần lớn dựa trên hiệu ứng truyền thông và niềm tin truyền thống mà ít dựa trên trải nghiệm thực tế hay khảo sát khoa học. Theo đó, Myanmar được mô tả là  một nước lạc hậu, cô lập với thế giới. Thái Lan là nước luôn trong tình trạng hỗn loạn, đảo chính, biểu tình liên miên. Lào và Cambodia là những nước nghèo đói, cô lập có vị thế không đáng kể. Thậm chí những gì không “tốt” thì đều cho là có liên quan đến Lào, từ gồm dép lào, gió Lào, thuốc lào. (!!!)

Điều này không chỉ dừng lại ở nhận thức chung của công chúng khi coi Lào và Cambodia như là những nước “đàn em” mà điều đặc biệt là nó còn xuất hiện trong số tầng lớp tinh hoa, những người làm chính sách, giới kinh doanh, học thuật và ngay cả những nhà quan sát tình hình khu vực của Việt Nam.

Ngày 07.01.2013, khi Cambodia trình làng chiếc xe điện tự chế tạo, Angkor EV 2013, giới công nghiệp xe hơi Việt Nam đã bị một phen lúng túng. Các nhà kỹ nghệ Việt Nam vẫn còn đang đau đầu với con ốc vít của Samsung. Trong khi đó, chính phủ Lào vẫn đang tiếp tục triển khai thi công đập Xayaburi bất chấp các phản đối quốc tế, trong đó có yêu cầu từ Việt Nam. Việc Cambodia từ chối đưa vấn đề Biển Đông vào thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, và gần đây nhất là tình trạng bài Việt kiều ở Phnom Penh, quá trình “dân chủ hóa” ở Myanmar, và sự can dự quá nhanh của Trung Quốc vào các nước láng giềng … Tình hình khu vực đã có những chuyển biến quan trọng mà các quan hệ đồng minh ý thức hệ thời kỳ chiến tranh lạnh đã thay đổi nhanh chóng. Lợi ích quốc gia trở thành vấn đề cốt lõi và sự can dự của các cường quốc mới nổi bên ngoài yêu cầu Việt Nam hiểu rõ hơn về các thách thức địa chính trị mới đến từ các nước láng giềng.

Tri thức và cách thức tiếp cận của chúng ta với các nước  lân bang đang đi sau thực tiễn năng động và linh hoạt của tình hình khu vực. Đã đến lúc cần có những thay đổi trong cách thức tiếp cận, nghiên cứu, nhìn nhận Đông Nam Á với cặp mắt cập nhật và thực tế hơn, so với cách thức mà chúng ta vẫn nhìn khu vực được duy trì từ mấy thập kỷ qua.

Trong hội thảo 30 năm đổi mới diễn ra vào đầu tháng 4 năm 2016 mà tôi có dịp tham dự, TS. Vannarith Chheang đến từ Viện nghiên cứu Hòa bình và Hợp tác (Institute for Cooperation and Peace) đã có bài tham luận về “chính sách ngoại giao của Việt Nam với các nước láng giềng nhỏ hơn”. Trong đó, nhà nghiên cứu chiến lược của Cambodia (người từng có 5 năm học tập tại Việt Nam và nói tiếng Việt không hề thua kém Hun Sen) lập luận rằng Việt Nam đang dần để Lào và Cambodia tuột ra khỏi quỹ đạo của mình. Tôi có hỏi tác giả một câu ngay trên diễn đàn: “vậy anh có lời khuyên nào cho chính phủ Việt Nam để đưa Lào và Cambodia quay trở lại vòng tay của mình?”. Trong tiếng vỗ tay của hội trường, Vannarith trả lời: “câu này phải hỏi Trung Quốc !”

Đây là một câu trả lời mang tính ngoại giao, tuy nhiên nó có một hàm ý rõ ràng rằng nếu có một bên thứ ba nào đó can dự vào mối quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Cambodia thì đó là Trung Quốc. Bài học lịch sử năm 1979 cho thấy rõ ràng là kẻ thứ ba này không hoàn toàn xa lạ. và hiện tại cũng đầy nguy cơ tiềm ẩn khi lãnh đạo đảng đối lập Sam Riansy đang tìm cách dựa vào Beijing để gây xung đột với Việt Nam xung quanh vấn đề biên giới, lãnh thổ. Từ năm 1994 đến nay, Trung Quốc đã đầu tư 9.1 tỉ USD vào Cambodia, và trở thành nguồn tài trợ số 1 của nước này. Tháng trước, đáp lại ủng hộ của Cambodia đối với lập trường sai trái của Beijing về vấn đề Biển Đông là gói viện trợ 3 năm trị giá 600 triệu USD.

Thủ tướng Cambodia Hun Sen và thủ tướng Trung Quốc Lí Khắc Cường

ảnh: the Phnom Penh Post

Các nhà làm chính sách của Việt Nam dường như cũng chưa sẵn sàng đối phó với các thách thức khu vực. Trung Quốc, Lào và Cambodia đã (và sẽ) xây dựng gần 30 con đập. Chúng ta đã nói về điều này nhiều năm nay nhưng chưa có một nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của các con đập, về lưu lượng dòng chảy xuống hạ lưu sông Cửu Long. Vì thế đợt hạn hán năm 2016 cũng đã làm cho những người làm chính sách ở Việt Nam “trở tay” không kịp. Đây chắc chắn mới chỉ là đợt hạn đầu tiên mà thôi. Trong những năm tới đây, Lào và Cambodia sẽ nhận được thêm nhiều đầu tư mới, các khoản vay ưu đãi… và vì thế sẽ ngày càng nhích dần về phía Beijing. Đây là một tương lai được dự báo trước mà chính quyền Việt Nam cần phải lưu tâm.

Trong số các bước đi nhằm kiểm soát khu vực sông Mekong của Beijing có siêu dự án đường sắt cao tốc 3,000 km nối Trung Quốc, Lào, Thailand, Malaysia và Singapore. 845 km đầu tiên nối Kunming với Bangkok được đầu tư 15.7 tỉ USD. Dù đầu năm nay, Thailand hủy dự án, 427 km trên lãnh thổ Lào đang được triển khai với số vốn 6 tỉ USD hoàn toàn đến từ Trung Quốc. Tháng 11 năm ngoái, Trung Quốc cũng đã giúp Lào xây dựng và phóng thành công vệ tinh viễn thông đầu tiên, Laosat1 với giá 258 triệu USD. Các đặc khu kinh tế và công nghiệp dọc biên giới Trung Quốc-Lào cũng đang được triển khai với số vốn đầu tư đến 31 tỉ USD, cao hơn tổng GDP của Lào.

Dự án đường sắt cao tốc (ảnh: thestraitstimes)

Tái định vị lại Việt Nam trong lịch sử thông qua các mối quan hệ khu vực

Nhất thể hóa khu vực và hình thành cộng đồng ASEAN cũng là lúc chúng ta cần có một tầm nhìn lịch sử xuyên suốt cho các tương tác khu vực, cũng như tái định vị vị thế của dân tộc mình trong khung cảnh khu vực. Chúng ta đã ở đâu trong tương tác với các nước trong khu vực trong nhiều thế kỷ qua? Điều đáng nói là trong khi quan hệ quốc tế và tình hình khu vực chuyển biến cực kỳ nhanh chóng thì tri thức và góc nhìn của người Việt Nam về Lào và Cambodia dường như vẫn chịu ảnh hưởng từ lịch sử xa xưa, trong đó người Việt chịu ảnh hưởng của hệ quy chiếu văn minh Trung Hoa, coi mình là một “đế chế” và các dân tộc xung quanh là “man di”, phiên thuộc, chư hầu, hay những người em cộng sản trong Chiến tranh Lạnh (có thể tìm thấy điều này trong bất cứ trang viết nào về hai nước này trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển sự LệĐại nam Thực lục).

Niềm tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, giúp đỡ nước lân bang yếu luôn là điều được các thế hệ người Việt truyền tụng. Thực tế, Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử khu vực, trong đó có hỗ trợ các nước láng giềng. Nhà Trần đã ba lần đánh bại quân Mông-Nguyên ở cửa ngõ Đông Nam Á, cũng như giúp đỡ Champa trong cuộc chiến. Tuy nhiên Đại Việt không phải là nước duy nhất trong khu vực làm được kỳ tích này. Người Myanamar và Java cũng viết những trang sử tương tự. Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, nhưng trước đó, đạo quân này từng bốn lần đại bại dưới tay người Myanmar, và trong một hành động mang tính biểu tượng, kẻ xâm lược đã phải tự tay nấu chảy tất cả súng ống và đốt thuyền bè trước khi rút lui. Nhà Nguyễn từng tạo thế cân bằng với Thailand tại Cambodia và giúp cho vương triều này tồn tại mà không hoàn toàn lệ thuộc vào Bangkok. Người Việt cũng đã giúp Cambodia thoát khỏi ách diệt chủng Pol Pot, đã giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Lào ở thế kỷ XX. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy hệ quả khi chúng ta đánh giá sai lầm khả năng của các nước láng giềng. Đó là tình thế của quân Nguyễn ở Phnom Penh từ 1838 đến 1845 và sau này là cuộc chiến một thập kỷ chống tàn dư Khmer đỏ.

Lào và Cambodia: láng giềng và đối tác

Việt Nam đầu tư nhiều và cũng có các khoản viện trợ đa dạng cho Lào và Cambodia, tuy nhiên phần lớn thông qua kênh quan hệ đảng và các liên hệ chính thống nhà nước. Không thể phủ nhận kênh đối ngoại này rất quan trọng và đã được xây dựng trong nhiều thập kỷ qua. Mặc dù vậy, đó vẫn là những cách thức ngoại giao cổ điển liên quan đến hệ thống ý thức hệ thời Chiến tranh Lạnh và điều cần làm là Việt Nam nên đa dạng hóa cách thức tiếp cận đối với hai quốc gia láng giềng này. Chúng ta cần giới thiệu hình ảnh của một Việt Nam mới trong mắt các nước láng giềng thay vì níu giữ di sản và các mối quan hệ quá khứ. Thế hệ trẻ ở các nước này đã thay đổi và Việt Nam cần cách tiếp cận mới, bao gồm việc đa dạng hóa kênh quan hệ đối ngoại, tạo dựng hình ảnh một Việt Nam năng động, tăng cường quảng bá hình ảnh, cung cấp học bổng đào tạo, thúc đẩy du lịch, hợp tác kinh tế…

Điều này đòi hỏi các tiếp cận mới linh hoạt và đa chiều. Thay vì coi Lào và  Cambodia là những nước “đàn em” thì giờ đây họ là những đối tác khu vực mà tầm quan trọng và tiếng nói của họ trên diễn đàn quốc tế không hề thua kém bất cứ quốc gia khu vực nào. Việt Nam đã sẵn sàng ở vị trí để làm điều đó. Chúng ta có lợi thế về các mối quan hệ truyền thống, nhiều thế hệ lãnh đạo của hai nước này được đào tạo ở Việt Nam. Vị trí địa lý gần gũi, đặc biệt trong trường hợp của Lào, là cửa ngõ cho nước này ra biển. Các khoản vốn đầu tư và quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước này cũng không hề nhỏ. Đây rõ ràng là những nguồn lực năng động để thiết lập ảnh hưởng của chúng ta ở các nước láng giềng, mở ra một chương mới cho lịch sử ngoại giao và thúc đẩy hợp tác với Lào và Cambodia.

Có một khái niệm ngoại giao hiện đại đang trở thành xu thế, “ngoại giao nhân dân” “people’s diplomacy”. Khái niệm này nhấn mạnh đến việc thúc đẩy giao lưu giữa nhân dân các nước bên cạnh kênh ngoại giao truyền thống. Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ các điều kiện để thực hiện chiến lược này ở Lào và Cambodia, thông qua giao lưu thanh niên, giáo dục, văn hóa, du lịch, hợp tác kinh tế. Chúng ta cũng có mạng lưới Việt kiều đông đảo, sinh sống lâu đời, hòa nhập tốt vào các xã hội bản địa ở Lào và Cambodia. Tất cả các nhân tố này sẽ là cơ sở cho sức mạnh mềm của Việt Nam như một kênh mới trong tiếp cận các nước láng giềng. Về điểm này thì rõ ràng người Việt có ưu thế hơn hẳn so với hình ảnh các du khách “không thân thiện” Trung Quốc.

Henry Kissinger trong bài phát biểu tại hội nghị an ninh Munich (Đức) lần thứ 50 (2014) đã so sánh Châu Á của thế kỷ XXI mang những ẩn tàng xung đột quân sự và thù nghịch như những gì ở châu Âu thế kỷ XIX. Điều này có thể mang tính cảnh báo nhiều hơn là thực tế, tuy nhiên nó hàm ý về tính sôi động chính trị và quân sự ở đây mà người Việt Nam, đặc biệt là giới học thuật và các nhà làm chính sách cần có một tầm nhìn mới mang tính chiến lược và hệ thống nhằm hoạch định các chính sách ngoại giao mới, đặc biệt là với các nước láng giềng. Đông Nam Á nằm ở giữa các hành lang an ninh và kinh tế Thái Bình Dương, xuyên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các cường quốc bên ngoài sẽ ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn trong khu vực, và Việt Nam cần phải chuẩn bị cho điều này.

Tham khảo

Daniel George Edward Hall. 1981. A History of South-East Asia. London: Palgrave Macmillan; bản dịch tiếng Việt, 1997. Lịch sử Đông Nam Á. Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc Gia.

Goh Beng-Lan, ed., 2011. Decentring and Diversifying Southeast Asian Studies: Perspectives from the Region, Singapore: ISEAS

Xem thêm về tư tưởng hoa-di của người Việt trong Trần Quang Đức. 2013. Ngàn năm áo mũ. Hà Nội: Nxb Thế giới

Trần Thị Vinh, Hội nhập khu vực về nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đông Nam Á: vấn đề đặt ra cho các trường đại học Việt Nam, Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (2004), tr. 46-48

Vannarith Chheang. Vietnam’s Foreign Policy towards Its Smaller Neighbours, Vietnam Forum 2016 “Vietnam: Thirty years of Doi Moi and beyond”. ISEAS: Singapore, 7-8 April 2016

Vũ Đức Liêm. Việt Nam ở giao điểm của nghiên cứu khu vực và toàn cầu: Tri thức Đông Nam Á của người Việt và cách thức tiếp cận mới. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (2016)

Vu Duc Liem, Relocating Vietnamese centrism in historical views of Laos and Cambodia, the 7th Engaging with Vietnam Conference, Hanoi: University of Hawaii, Portland State University, and Hanoi University of Business and Technology: July 2015

Yingcong Dai, A Disguised Defeat: The Myanmar Campaign of the Qing Dynasty, Modern Asian Studies, Vol. 38, No. 1 (Feb., 2004), pp 145-189

http://www.bloomberg.com/news/2014-02-02/kissinger-says-asia-is-like-19th-century-europe-on-use-of-force.html

http://www.phnompenhpost.com/national/china-cambodia-affection-display

http://thediplomat.com/2016/04/china-thailand-railway-project-gets-untracked/

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/thu-tuong-chi-dao-dam-bao-cuoc-song-nguoi-viet-tu-campuchia-ve-nuoc-3438580.html

http://ngm.nationalgeographic.com/2015/05/mekong-dams/nijhuis-text

https://www.facebook.com/hunsencambodia/likes

http://www.bbc.com/vietnamese/multimedia/2014/01/140120_sam_rainsy_correct

http://www.phnompenhpost.com/national/vietnam-not-my-king-pm

http://www.straitstimes.com/asia/east-asia/chinas-dream-of-rail-link-to-s-e-asia-coming-true

 

NGƯỜI THÁI VÀ BIỂN: QUÁ TRÌNH TƯƠNG TÁC, QUẢN LÍ, VÀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN BIỂN TRONG LỊCH SỬ THÁI LAN

Thai People and the Sea: Maritime Interaction and Management, and the Establishment of the Sea Territory in Thai History

Vũ Đức Liêm*

This paper explores the dynamic relationship between the Sea and rhythm of Thai history during the last seven centuries. By providing an overview of pattern and trajectory of the sea and historical evolution, it argues that Thai history is a continuous attempts of reaching to the coasts and seas in order to expanding political influence, territorial consolidation, and acquiring resources through maritime connections. From the early modern age, the sea has contributed significantly to the Thai economic wealth and territorial expansion. Finally, this paper suggests how the sea and maritime interaction shaped Thai modern history by providing with both challenge and opportunity for modernization. The sea, in fact played as a major political and military theatre where Bangkok overcame the test of colonialism and construct their own maritime sovereignty.

Keywords: Thailand, maritime history, Gulf of Siam

Đây là một nghiên cứu về tương tác của người Thái đối với biển trong hơn bảy thế kỷ qua. Mục đích của bài viết nhằm cung cấp một cái nhìn khái quát về mối quan hệ giữa biển trong việc định hình cấu trúc và nhịp điệu của lịch sử Thái Lan. Nó gợi ý rằng lịch sử Thái Lan là lịch sử của quá trình liên tục và thống nhất của các nỗ lực mở rộng lãnh thổ và tiếp cận với các nguồn lực từ biển. Đến thời sơ kỳ cận đại, biển đã đóng một vai trò cốt yếu đối với sự thịnh vượng của các vương quốc người Thái. Biển đã ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình phát triển của lịch sử Thái Lan, bao gồm cấu trúc chính trị, xã hội, và cách thức xã hội Thái Lan giao lưu và tương tác với bên ngoài. Cuối cùng, nó gợi ý rằng Thái Lan đã sử dụng thành công sự tương tác với biển và môi trường biển để tìm kiếm cơ hội và các đối sách khéo léo để tương tác với các quyền lực hàng hải khác, nhằm bảo vệ, duy trì sự thịnh vượng, chống lại các nguy cơ đe dọa từ bên ngoài và củng cố nền độc lập. Tuy rằng nỗ lực này trải qua một quá trình lâu dài với các hiệp ước bất bình đẳng và quá trình “tự thực dân hóa” (selfcolonialization, như cách nói của người Thái), nhưng rõ ràng một chiến lược như thế cuối cùng đã mang lại hiệu quả, không chỉ giúp Thái Lan đứng ngoài làn sóng của chủ nghĩa thực dân mà còn đưa nước này bước vào quá trình hiện đại hóa (modernization, từ cuối thế kỷ XIX).

Từ khóa: Thái Lan, chủ quyền biển, lịch sử, hải sử, Vịnh Thái Lan

 

“Có những con thuyền mành lớn vừa cập bến buôn bán
Neo lại ở cuối thị trấn với các cánh buồm phấp phới
Đủ các hàng hóa bày bán làm cho người trong thị trấn vui tươi hài lòng
Bên bờ biển, khu chợ đông nghịt người ngồi xúm lại với nhau
Đổi thiếc lấy dollars, qua lại bán mua
Dãy dài người Thái, Hoa, Ấn, và Java bán các loại quần áo hoa văn
Và lụa Trung Hoa sặc sỡ. Người Thalang (Phuket) ăn mặc thật sang trọng”.[1]
Sunthon Phu

Dẫn nhập

 Mục đích của bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn khái quát về sự tương tác với biển và vai trò của nó đối với cấu trúc và nhịp điệu của lịch sử Thái Lan từ thế kỷ XIII. Nó gợi ý rằng lịch sử Thái Lan là lịch sử của quá trình liên tục và thống nhất của các nỗ lực mở rộng lãnh thổ và tiếp cận với các nguồn lực từ biển. Đến thời sơ kỳ cận đại, biển đã đóng một vai trò cốt yếu đối với sự thịnh vượng của các vương quốc người Thái. Biển đã ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình phát triển của lịch sử Thái Lan, cấu trúc chính trị, xã hội, và cách thức xã hội Thái Lan giao lưu và tương tác với bên ngoài. Cuối cùng, nó gợi ý rằng Thái Lan đã sử dụng thành công sự tương tác với biển và môi trường biển để tìm kiếm cơ hội và các đối sách khéo léo để tương tác với các quyền lực hàng hải khác, nhằm bảo vệ, duy trì sự thịnh vượng, chống lại các nguy cơ đe dọa từ bên ngoài và củng cố nền độc lập. Tuy rằng nỗ lực này trải qua một quá trình lâu dài với các hiệp ước bất bình đẳng và quá trình “tự thực dân hóa” (selfcolonialization, như cách nói của người Thái), nhưng rõ ràng một chiến lược như thế cuối cùng đã mang lại hiệu quả, không chỉ giúp Thái Lan đứng ngoài làn sóng của chủ nghĩa thực dân mà còn đưa nước này bước vào quá trình hiện đại hóa (modernization, từ cuối thế kỷ XIX).

  1. Người Thái và Biển

Sẽ làm một tham vọng lớn nếu như có thể tóm lược lịch sử người Thái và ảnh hưởng của biển trong một bài viết ngắn, vì tính đa dạng chủng tộc, địa lý và nhịp điệu thăng trầm của lịch sử Thái Lan, ít nhất là trong bảy thế kỷ qua. Người Thái có một tương quan đặc biệt với biển gắn liền với quá trình di cư của các nhóm nói ngôn ngữ Tai xuống phía nam, dọc theo các con sông Wang, Yom, Nan, Pa Sak, Ping, Tha Chin và Chao Phraya. Tất cả đều chảy theo hướng bắc-nam. Mặc dù nguồn gốc người Thái vẫn là một câu hỏi khoa học bỏ ngỏ, cấu trúc địa chính trị và xu hướng phát triển lãnh thổ của các vương quốc trên đất Thái Lan từ  thế kỷ XIII đến vương triều Bangkok (Rattanakosin, từ 1782) là lịch sử xây dựng các đô thị dọc sông và mở rộng lãnh thổ theo các dòng sông, xuôi xuống hạ lưu.[2]Ayutthaya được xây dựng trên một hòn đảo nơi khúc uốn của dòng sông Chao Phraya, cách biển 90 km. Chặng cuối của cuộc hành trình này kết thúc vào năm 1767 khi Phya Taksin  (Trịnh Quốc Anh) xây dựng kinh đô ở Thonburi, bên bờ tây sông Chao Phraya, và vương triều Chakri dời kinh đô này sang bờ đông, 16 năm sau đó. Cả hai thành phố này đều nằm cách Ayutthaya 70 km xuôi về hạ lưu.

Đã có nhiều cuộc tranh luận về vai trò của biển đối với lịch sử Thái Lan ở giai đoạn đầu, đặc biệt là trước khi Ayuthaya trở thành Venice của phương Đông ở thế kỷ XVII.[3]Các diễn trình lịch sử những năm 1980s thường tìm cách kết nối các vương quốc trên đất Thái (Sukhothai và Ayutthaya) như là sự kế thừa của Angkor để trở thành các quyền lực mới ở Đông Nam Á lục địa (mainland Southeast Asia). Các học giả như David K. Wyatt (A History of Thailand, 1982/2003), Charnvit Kasetsiri (The Rise of Ayutthaya, 1976), Srisakara Vallibhotama (Sayam prathet, 1991) tìm cách đặt các thể chế này trong không gian địa chính trị lục địa hơn là chú ý đến vai trò của biển trong sự hưng thịnh của Ayutthaya.[4] Chỉ đến sơ kỳ hiện đại, vai trò của vùng hạ lưu Chao Phraya mới được đề cập đến như một không gian của các tương tác biển và lục địa và các học giả bắt đầu chú ý đến một vai trò hợp lí của biển như động lực cho sự phát triển của lịch sử Thái Lan.[5]

14080946_304318489921672_1014388605_n

Bản đồ sự phân chia các vùng sinh thái và các con sông chính của Thái Lan

Source: Yoshikazu Takaya, An Ecological Interpretation of Thai. Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 6, No. 2 (Sep., 1975), p. 191

Đường bờ biển hiện nay của Thái Lan khoảng 3,200 km diện tích khoảng 316,000 km2. Thực tế, vị trí địa lí của Thái Lan đóng vai trò đặc biệt như một cầu nối giữa biển và lục địa, giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa các dòng giao lưu văn hóa, tôn giáo và thương mại trong hàng nghìn năm giữa Nam Á và Đông – Đông Nam Á, giữa thế giới phương Đông và phương Tây. Miền nam Thái Lan bao gồm nơi có khoảng hẹp nhất của bán đảo Malay, eo Kra (rộng 44 km) nối giữa biển Andaman và Thái Bình Dương. Từ các thế kỷ tiếp giáp công nguyên, nơi đây đã là một trạm trung chuyển và đầu mối giao thông quan trọng trên con đường tơ lụa trên biển, nối liền Trung Quốc, thế giới Đông Nam Á với Ấn Độ và phương Tây.[6]

Đến thế kỷ XV-XVII, khi mạng lưới thương mại toàn cầu được mở rộng, việc trung chuyển hàng hóa từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương  sử dụng đường bộ từ Mergui đến Moulmein đã làm cho Auhtthay trở thành cầu nối giữa thương mại Ấn Độ-Arab và Trung Quốc-Nhật Bản. Việc chuyển hàng lên bộ này có thể rút ngắn thời gian từ 3 tháng (nếu như vòng qua eo Malacca) xuống còn 6 đến 10 ngày.[7] Một đặc điểm địa lý khác giúp Thái Lan đóng vai trò kết nối biển và Đông Nam Á lục địa là nhờ vào việc các đường bờ biển chiếm hơn một nửa chu vi của vịnh Thái Lan và các nhánh sông chảy theo hướng bắc nam. Vì vậy, các miền duyên hải và lưu vực sông trên lãnh thổ Thái Lan trở thành môi trường giao lưu của các nhóm biển và lục địa. Trước khi có sự xuất hiện của Singapore, Mergui – Ayutthaya là một trong những tuyến thương mại quan trọng kết nối Đông và Tây ở Đông Nam Á.[8]Các cảng dọc duyên hải Andaman, eo Kra, và dọc theo Nakhorn Sri Thammarat, Songkhla, và Pattani là các tụ điểm trọng yếu của thương mại quốc tế khu vực. Đồng thời,vùng duyên hải và cửa sông Chao Phraya lại nằm ngay trung tâm của vùng vịnh Thái Lan, một trung tâm thương mại và giao lưu văn hóa, tôn giáo từ các thế kỷ tiếp giáp công nguyên, nơi nổi lên các nền văn hóa biển quan trọng như Óc Eo và Dvaravati.[9] Các vương quốc như Ayuthtaya, Thonburi, và Bangkok đều thịnh vượng dựa trên thương mại hàng hải, tuy nhiên vị trí địa lí, sự mở rộng lãnh thổ và cạnh tranh quyền lực đặt cho Xiêm nhiều vấn đề quan trọng hơn là xác lập chủ quyền biển đảo cho đến trước khi người phương Tây thiết lập chủ nghĩa thực dân ở khu vực. Thực tế, Xiêm có những cơ chế linh hoạt với thương mại hàng hải và vì thế không yêu cầu sự kiểm soát chặt chẽ đối với các vùng nước xa bờ, cho tới những giai đoạn gần đây của lịch sử. Các thành  phố như Ayutthaya, Thonburi và Bangkok đều có khả năng kết nối trực tiếp với biển và đón nhận các tàu lớn.

Bằng cách biến mình thành một điểm đến của các cường quốc biển, người Thái đã tham dự vào dòng chảy của lịch sử toàn cầu thông qua tương tác với biển, không chỉ với tư cách là một thị trường quan trọng và ngồn cung cấp hàng hóa dồi dào ở Đông Nam Á lục địa, mà còn là một đầu mối thương mại và trạm trung chuyển của mạng lưới thương mại toàn cầu.[10] Chính vì thế, biển đóng vai trò giữ nhịp cho những thăng trầm của lịch sử Thái Lan bằng cách cung cấp môi trường mà ở đó người Thái có thể tương tác với thế giới thông qua trao đổi thương mại, giao lưu chính trị, chiến tranh, xung đột, phát triển hải quân, và đón nhận các nhân tố bên ngoài thông qua con đường giao tiếp hàng hải. Sự mở rộng của đế chế Thái (từ thế kỷ XVIII) cho đến khi “Geobody” (hình thể) của nước Thái Lan hiện đại được xác lập thông qua các hiệp ước quốc tế và tranh chấp lãnh thổ thế kỷ cuối thế kỷ XIX-đầu XX rõ ràng chủ yếu diễn ra trên các vùng duyên hải, các đảo trong Ấn Độ Dương và vịnh Thái Lan. Chính vì thế, tiến ra biển, tương tác  biển, kiểm soát biển, và xác lập lãnh thổ biển là một xu hướng quan trọng định hình nước Thái hiện đại, ít nhất cũng là khuynh hướng từ thế kỷ XIV. Khu vực vịnh Thái Lan trở thành môi trường năng động cho các chuyển biến chính trị. Cả vương triều Thonburi, Bangkok (và Nguyễn Việt Nam) đều được gây dựng dựa trên các hoạt động quân sự và kiểm soát các nguồn lực biển, đảo và duyên hải.

Mặc dù vậy, ý niệm về biển và không gian biển của người Thái cho đến tận đầu thế kỷ XIX vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của thế giới quan Phật giáo và Hindu giáo. Các tấm bản đồ cổ nhất của người Thái về biển nói riêng và về địa lý nói chung có thể tìm thấy có niên đại vào khoảng thế kỷ XVIII. Một trong những bản đồ đó, Thongchai gọi là “Bản đồ duyên hải”, được vẽ vào thời Thonburi. Tấm bản đồ mô tả đườnng bờ biển từ Triều Tiên đến Arab, với vũ trụ quan về ba thế giới của vua Ruang (Trai Phum Phra Ruang).[11] Các đường bờ biển được vẽ dọc theo phần dưới của bản đồ trong khi biển nằm ở phía trên. Nó bắt đầu với Triều Tiên kéo dài xuống tận Quảng Châu. Việt Nam xuất hiện như một bán đảo với các cửa sông Mekong là điểm cao nhất trong khi duyên hải vịnh Thái Lan được mô tả như một vùng lõm và Ayutthaya xuất hiện như là thành phố lớn nhất.[12] Các bản đồ của người Thái trước những năm 1870s, như Thongchai lập luận, đều không hề có đường  biên giới. Phần lớn chúng thuộc về hai loại, bản đồ về vũ trụ quan (cosmograph) và các bản đồ liên quan đến thông tin quân sự và bờ biển với các vị trí cảng, mà không thể hiện các đường biên giới.[13]

14101563_304318669921654_218772660_n

Bản đồ của Thái Lan vẽ trong khoảng 1767-1782 về đường duyên hải từ Việt Nam đến bán đảo Malay

Nguồn: Klemp, E. Wightman, A. Wightman, A., Asien auf Karten von der Antike bis zur Mitte des 19 Jahrhunderts, VCH (Acta Humaniora), Weinheim, Germany, 1989, p. 42

Vũ trụ quan của người Thái chịu ảnh hưởng bởi Phật giáo và Hindu giáo trong ý niệm rằng thế giới được bao quanh bởi các vòng biển và lục địa với trung tâm là núi Meru. Sự kết hợp của các ý niệm tôn giáo Ấn Độ với tín ngưỡng bản địa của các cư dân sống trong miền gió mùa Đông Nam Á làm cho nước và các biểu tượng của nước giữ vị trí rất quan trọng trong nền văn hóa Thái (và nhiều sắc dân Đông Nam Á khác). Naga là một trong những biểu tượng của nước giữ vai trò trung tâm trong nền văn hóa lấy nước làm nền tảng này (waterbased culture). Nó xuất hiện từ các con thuyền rồng của vua Ayutthaya (Anantanakraj) cho đến hệ thống dẫn nước vào các cánh đồng, naak hai nam (Naga mang nước).[14]

Dù tín ngưỡng, phong tục lễ hội của người Thái gắn liền với các biểu tượng nước, phần lớn không gian thực hành lễ hội và kinh tế xã hội đều chủ yếu diễn ra nơi các dòng sông và vùng đất ngập nước. Từ trước thế kỷ XIX, ngay cả nghề đóng thuyền, cũng chủ yếu là thuyền đi sông, và việc tổ chức các xã hội, cũng như công trình kiến trúc được tạo dựng quanh các dòng sông và vùng đất thấp ven sông.[15] Điều này cũng được phản ánh qua  phạm vi cư trú của người Thái. Sir John Bowring giữa thế kỷ XIX cũng mô tả rằng họ chủ yếu cư trú dọc theo hai bờ Chao Phraya các nhánh lớn của dòng sông này và khu vực vịnh dọc theo duyên hải xuống vĩ độ thứ 7 trên bán đảo Malay. Người Thái cũng chiếm 2/3 cư dân tại duyên hải Tenasseri, bên bờ  biển Andaman.[16]

14088840_304318729921648_1296882671_n

Lễ hội đua thuyền của người Thái với sự chứng kiến của vua Ayutthaya (khoảng 1680s)

Nguồn: Anthony Reid, Southeast Asia in the Age, p. 192

14080983_304318789921642_1099880506_n

Thành phố và cảng Bangkok, (18.12.1858)

Nguồn: Rev. N. A. McDonald, A Missionary in Siam (1860-1870), Bangkok: White Lotus Press, 1999

14089448_304318853254969_116504770_n

Hình thuyền Naga hoàng gia thế kỷ XIX, gọi là Anantanakraj

Nguồn: Thư viện Quốc gia Bangkok

  1. Tương tác với biển

Tư liệu thành văn sớm nhất mà chúng ta có được đề cập đến các mối liên hệ giữa người Thái với biển là tấm bia dựng bởi nhà vua nổi tiếng của vương quốc Sukhothai, Ramkhamhaeng (1292). Sau nhiều phần mô tả về sự thịnh vượng của vương quốc, tấm bia nhắc đến việc các “lãnh thổ” đã chịu khuất phục trước nhà vua, về phía tây, đến tận Pegu và Martaban bên bờ Ấn Độ Dương, về phía nam, chạy dọc theo miền duyên hải đến Nakhon Si Thammarat, trên bán đảo Malay. Mặc dù biên niên sử của Nakhon Si Thammarat cũng đưa một thông tin tương tự rằng Ramkhamhaeng đã đến trị vì ở đây từ 1274 đến 1276, sự hiện diện của quyền lực Sukhothai ở bán đảo Malay có lẽ không gì khác hơn là các mối quan hệ chính trị lỏng lẻo giữa các vương triều ở miền nam như Phetburi và Suphanburi dành cho Sukhothai.[17] Từ năm 1350, Ayutthaya được thành lập ở phía nam của Sukhothai, nằm cách biển 90 km. Tới thế kỷ XV, vương quốc này tìm cách bành trướng xuống bản đảo phía nam bằng các cuộc chinh phục tới Malacca,và tìm cách mở đường xuống thế giới hải đảo Malay.Pongsawadan của Luan Prasoet, biên niên sử soạn năm 1680 đề cập đến sự kiện năm 1444, vua Boromaraja II đi chinh phục Mallaca, đã đóng quân ở Pathai Khasem, bắt 120,000 tù binh và sau đó rút quân về. Biên niên sử Malay, Sejarah Melayu,cũng mô tả:

“Từ xa xưa, vương quốc Siam được biết đến như là Shahrunuwi (Ayutthaya), và tất cả các vua ở phía đông đều phục tùng ông ta. Nhà vua tên là Bubunnya (Boromaraja II (?)). Khi người Siam biết rằng Malacca là một vương quốc quan trọng, nhưng không thần phục mình, nhà vua Bubunnya liền gửi một sứ đoàn đến Malacca yêu cầu thần phục. Nhưng Sultan Muzaffar Shah không chấp nhận, nhà vua Siam giận dữ chuẩn bị tấn công Malacca. Tướng quân của ông ta, Okya Chakra, dẫntheo một đạo quân lớn.”

Trong năm tiếp theo, một đạo quân như thế vẫn được tiếp tục phái xuống nhằm chinh phục eo biển phía nam bán đảo Malay. Các cuộc viễn chinh này đe dọa cả Malacca và khu vực hải đảo đến mức họ đã phải cầu cứu nhà Minh can thiệp.[18] Các cuộc viễn chinh quân sự thường xuyên cũng diễn ra như là những nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của người Thái xuống các khu vực ven biển, bán đảo, kiểm soát các đảo trong vịnh Thái Lan và vùng duyên hải hơn ba nghìn km từ tây nam Cambodia đến miền trung bán đảo Malay. Đầu thế kỷ XVII, Yamada Nagamasa được cử đi chinh phục các thủ lĩnh trên bán đảo Malay. Trong cuộc viễn chinh năm 1630, ông cùng 300 samurai Nhật Bản và quân Thái đã dập tắt sự kháng cự của các thủ lĩnh người Malay ở Ligor (nay là Nakhon Si Thammarat).[19] Ayutthaya cũng mở rộng ảnh hưởng xuống các đảo và duyên hải phía nam, đặc biệt là khu vực xung quanh vịnh Thái Lan; xây dựng hệ thống phòng thủ dọc cửa sông và duyên hảiDựa vào sự hỗ trợ của người Pháp, các pháo đài đã được xây dựng dọc theo cửa sông Chao Phraya nhằm quản lí vùng duyên hải và cửa sông dẫn vào Ayutthaya, trong đó có các pháo đài ở hai bên bờ Bangkok ngày nay.[20] Từ thế kỷ XIV, hàng năm người Thái đều gửi các đoàn thuyền đến Trung Hoa triều cống, hoặc ghé qua Ninh Ba, Hạ Môn, Quảng Đông buôn bán. Năm 1387, Xiêm được cho là đã gửi đến nhà Minh 30 con voi và 60 quản tượng; trong khi một sứ đoàn của họ đến nhà Minh năm 1456 than phiền về việc người Chăm đã cướp bóc một chiếc tàu của họ.[21] Bức thư của Ayutthaya gửi chúa Nguyễn năm 1755 liệt kê ít nhất 4 lần các thuyền này ghé vào Hội An và bị quan chức Đàng Trong thu thuế và hàng hóa. Các văn thư trao đối sau đó cũng hé lộ rằng người Thái có các hoạt động tuần tra vùng duyên hải và đã có đụng độ giữa thuyền chiến của Đàng Trong với Ayutthaya. Trong một sự kiện được ghi nhận, một thuyền chiến của Đàng Trong cùng với 39 thuyền nhân bị đưa về Thái. Chúa Nguyễn yêu cầu họ được đưa trở lại Thuận Hóa cùng với 15 thương nhân khác gặp bão.Trong các văn thư ngoại giao này, Ayutthaya cũng xin cấp 10 long bài giúp cho các thuyền quan phương được miễn thuế nếu như ghé qua các cảng Đàng Trong.[22]

Đến cuối thế kỷ XVIII, lần đầu tiên thủy quân đã mang lại ưu thế thực sự cho Xiêm với việc Phya Taksin trốn thoát cuộc tàn sát của người Miến ở Ayutthaya, lập căn cứ ở Chanthaburi, mở rộng các xưởng đóng thuyền chiến, và liên kết với các mạng lưới người Hoa trong vùng vịnh Thái Lan.[23] Trong vòng 6 tháng, chiến thuật dựa vào vùng duyên hải từ Chanthaburi đến Trad, Rayong và lực lượng thủy quân này đã đưa ông đến thắng lợi với sự thiết lập vương triều Thonburi (1767-1782).[24] Đây là vương triều đầu tiên mà người Thái thể hiện tham vọng bành trướng một cách có hệ thống trong nỗ lực kiểm soát biển, duyên hải và các đảo dọc theo cửa sông Chao Phraya. Không dừng lại ở các cuộc viễn chinh vào Lào và Cambodia; bán đảo Malay và vùng duyên hải đông nam kéo dài đến Hà Tiên đã trở thành mục tiêu thường xuyên của các cuộc chinh phục quân sự của Phya Taksin. Ông mở rộng kiểm soát vùng ven biển của các tiểu quốc Malay thông qua quân sự và sử dụng mạng lưới thương nhân Hoa kiều. Tuy nhiên, các nỗ lực trong suốt thời gian cầm quyền của ông cũng chỉ chinh phục được khu vực duyên hải Nakhon Si Thammarat, trong khi Kedah và Pattani vẫn bảo lưu được nền độc lập.[25]

Việc kiểm soát các nhóm người Hoa định cư dọc theo vùng duyên hải từ Hà Tiên xuống nam bán đảo Malay có ý nghĩa quan trọng làm bàn đạp để kiểm soát các đảo, duyên hải và vùng biển trong vịnh Thái Lan. Nếu như Hà Tiên giúp chúa Nguyễn và nhà Nguyễn sau này xác lập chủ quyền biển đảo tại phần phía Đông của vịnh Thái Lan, Phya Taksin và người Thái cũng có sách lược tương tự với hàng chục nhóm Hoa kiều dọc theo duyên hải bán đảo Malay. Đến 1780, có khoảng 20 nhóm người Hoa khác nhau thiết lập các thể chế tự trị hoặc bán tự trị dọc theo vịnh Thái Lan như Hà Tiên, Trad, Chantabun, Songkla, Trengganu, Sambass, Riau, Phuket, và Bangka.[26] Các nhóm này có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các vùng bờ biển, đảo và cửa sông trong vùng vịnh. Họ đồng thời cũng nắm những vị trí cảng và đầu mối kinh tế quan trọng. Người Hoa ở Bangka là một ví dụ cho tầm ảnh hưởng đó. Trong những năm 1760, họ đã phát triển khai mỏ thiếc ở quy mô lớn đến mức hàng năm bán cho thương nhân châu Âu khoảng 1,562 tấn. Anthony Reid dự báo con số này bằng cả tổng sản lượng của Đông Nam Á trong 30 năm trước đó cộng lại; trong khi năm 1824, các nhóm người Hoa này sản xuất ½ lượng hồ tiêu toàn thế giới (9,000 tấn).[27]

Cũng dưới thời Thonburi, người Thái chính thức đẩy mạnh tranh chấp với người Việt ở Cambodia cả trên bộ lẫn trên biển. Mục tiêu then chốt của nỗ lực mở rộng và kiểm soát vịnh Thái Lan này chính là Hà Tiên, vị trí tiền tiêu có thể kiểm soát hàng hải và các hoạt động trên biển dọc thẹo một đường bờ biển dài từ cửa sông Chao Phraya đến tận bán đảo Cà Mau. Năm 1771, Phya Taksin tấn công Hà Tiên. Chi viện sau đó của chúa Nguyễn đã buộc quân Thonburi phải rút lui.[28] Tuy nhiên, các nhóm quân Thái vẫn đóng rải rác tại các vùng duyên hải nam Cambodia và Thái Lan đến tận đầu thế kỷ XIX. Họ xây dựng các đồn bốt và kiểm soát cảng tại phủ Sài Mạt [柴末府]. Trong một bức thư gửi Bangkok, Gia Long yêu cầu vua Rama IItriệu hồi các nhóm quân này.[29] Xiêm La Quốc Lộ Trình Tập Lục cũng đề cập đến các đồn bốt của Việt Nam và Thái Lan xen kẽ nhau tại vùng duyên hải và các đảo ở phía đông bờ Vịnh. Tuy nhiên nỗ lực kiểm soát của Bangkok đối với khu vực phía đông của vịnh Thái Lan sẽ còn kéo dài đến tận thời Rama III. Năm 1833, Xiêm phái các đạo quân lớn đánh chiếm Hà Tiên và An Giang.

Sự gia tăng ảnh hưởng biển và duyên hải của người Thái rõ ràng trở thành đối trọng đối với người Việt. Hà Tiên và chúa Nguyễn sau đó đã phản công bằng một chiến dịch thủy quân lớn với 5 vạn quân(khoảng 1768-1770). “Thuyền chiến lớn nhỏ kéo dài đến hàng chục dặm” 戰艦戰船旌旗連絡十餘里. Đạo quân thủy này đến đóng ở Chanthaburi trong hai tháng, nhưng Phya Taksin từ chối giao chiến. Dịch bệnh và vấn đề tiếp tế đã làm quân Đàng Trong thiệt hại đến 4/5 và phải rút về Hà Tiên.[30] Mặc dù vậy, rõ ràng thủy quân không phải là điểm mạnh của người Thái nếu như so với người Việt. Hơn một thập kỷ sau đó, họ đã bị Tây Sơn đánh bại trong trận thủy chiến lớn ở Rạch Gầm – Xoài Mút.[31] Khi Việt Nam được thống nhất vào năm 1802, xung đột ven biển và duyên hải giữa Bangkok và Huế vẫn tiếp tục đến giữa thế kỷ XIX liên quan đến việc tuần tra hàng hải, chống cướp biển và đụng độ giữa các nhóm thủy quân trong vùng vịnh Thái Lan. Cũng có những lúc người Thái phải kêu gọi sự giúp đỡ của nhà Nguyễn để chống lại người Miến. Tháng 05/1809, Gia Long đã hội ý các quan lại về lời đề nghị trợ giúp 3 vạn quân thủy bộ, và xem xét khả năng cứu trợ đường theo đường biển cho Bangkok: “Thủy quân ta vốn đã tập quen, nếu dùng đường biển thì tiện. Đường biển có hai lối: một lối đi từ Lục Khôn Xa Gia Lục để hội với quân Xiêm thì chứa lương đóng quân nên ở chỗ nào? Một lối qua hải đảo các nước Chà Và Hồng Mao thẳng tới nước Diến Điện thì phải mượn đường ở người, nên nói thế nào?”[32]

Khi xem xét sự thay đổi trong chính sách của người Thái với biển từ Rama I và II (1782-1824), điều dễ nhận thấy là sự dịch chuyển mạnh mẽ của các mối quan tâm của người Thái từ lục địa ra biển bởi từ cuối những năm 1810, Myanmar đã không còn là mối đe dọa lớn nhất đối với Bangkok. Sau khi dời đô từ Thonburi sang Bangkok để tránh các cuộc tấn công của người Miến, người Thái tìm thấy lợi thế của chính sách hướng ra biển và nhờ đó, họ có thể kiểm soát tốt hơn các vùng cửa sông và duyên hải ở dưới hạ lưu khoảng 20km. Các thành trì quan trọng dọc cửa biển như Paknam, Samut Sakhon, Samut Prakan, Samut Songkhram đều được vũ trang bởi các đạo thủy quân mạnh.[33] Từ vùng trung tâm Bangkok đã phát triển một mạng lưới quân sự quản lí biển và duyên hải từ vùng hạ lưu sông Mekong đến các Sultan Malay ở phía nam. Rama III đã phái các đạo quân xuống Kedah vào năm 1838-1839, tuy nhiên các cuộc viễn chinh này chỉ thiết lập ảnh hưởng trực tiếp của Bangkok ở Songkhla, Nakhon trở về phía bắc, trong khi Kedah, Pattani, Kalantan, và Trengganu vẫn là các vùng chịu ảnh hưởng (triều cống cây vàng, cây bạc).[34] Các tiểu quốc duyên hải này thường xuyên tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của người Thái bằng cách dựa vào người Miến hay người Anh ở Penang. Năm 1822, thuyền của Myanmar bị phát hiện mang theo các thư từ như thế đến Sultan Kadah; hành động này đã dẫn đến các chiến dịch quân sự của Bangkok ngay sau đó, và lính Xiêm đã đóng quân và xây dựng các xưởng đóng tàu ở Setul.[35]

Đến những năm 1820s, người Thái đã có một lực lượng hải quân tương đối quy mô. Khi người Anh tấn công Myanmar lần thứ nhất (1824-5), lực lượng quân sự của Bangkok được yêu cầu phải chuẩn bị đối phó. Ngoài hai cánh quân bộ, lực lượng hải quân được giao cho Phaya Chumphon (Sui) để tuần tra khu vực biển dọc theo Mergui – Tenasserim. Người Anh còn được thông báo rằng các cánh quân này có thể hỗ trợ họ.[36] Sự phát triển của thủy quân Thái Lan cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX gắn chặt với sự trợ giúp về thuyền và kỹ thuật đóng thuyền của người Việt và người Hoa. Biên niên sử Bangkok, triều đại Rama I đề cập đến việc ông này yêu cầu Nguyễn Ánh đóng thuyền gửi qua Bangkok để đổi lấy sự giúp đỡ từ Xiêm:

“Nếu Ong Chiang Su (Nguyễn Ánh) kêu gọi sự giúp đỡ quân sự, nhà vua sẵn sàng gửi quân. Tuy nhiên, để đi đường bộ thì quá xa, mà đi đường thủy thì chỉ có 70-80 thuyền hiện sẵn ở kinh. … Vì thế nếu Ong chiang Su không bận tham chiến, nên cho đóng khoảng 60-70 thuyền kular, cùng với một cái thuyền kular tốt cho nhà vua sử dụng, và gửi tất cả chúng cho nhà vua.”.[37]

Một ghi chép khác cũng cho thấy Xiêm nhận được nhiều thuyền đóng từ vùng hạ lưu sông Mekong để đổi lấy vũ khí.

“Vào ngày trăng khuyết đầu tiên của tháng 11 năm hợi, nhà vua Annam gửi một lá thư yêu cầu mua 1000 hap sắt. Với yêu cầu này là quà tặng 30 cái lọng trình lên nhà vua, đồng thời 70 thuyền chiến đã được yêu cầu đóng. Các con thuyền này đã được đóng và đang thả neo ở bán đảo Bang-o đợi lệnh nhà vua. Vào ngày Thứ Năm, ngày trăng khuyết thứ hai của tháng ba, nhà vua yêu cầu chuyển lên tàu 200 hap sắt và 200 khẩu súng làm quà tặng cho vua Annam”.[38]

Sự ngưỡng mộ của người Thái đối với kỹ thuật đóng thuyền của người Việt đã được ghi chép trong môt bài thơ ở thế kỷ XIX:

“(Việt) là những người có nhiều bộ mặt và nhiều thủ đoạn giấu trong tay áo

Họ rất khéo làm nghề mộc

Họ thích ăn thịt cá sấu

Họ sống dọc sông và là những chuyên gia về thuyền bè”.[39]

Sự phát triển của thương mại và nhu cầu giao thương bắt đầu tăng mạnh ở Xiêm đầu thế kỷ XIX góp phần thúc đẩy đáng kể sự phát triển của ngành đóng tàu trong đó Bangkok và Chanthaburi là những trung tâm chính. Chanthaburi nằm trên bờ đông vịnh Thái Lan, ghi chép của những người phương Tây qua đây cho biết khu vực này tập trung chủ yếu người Cochinchina (Việt), và người Hoa.[40] Tại đây vào năm 1835, có văn phòng trực tiếp điều hành hệ thống đóng tàu quy mô dưới sự chỉ huy của Chaophraya Phrakhlang, quản lí ngân khố và bộ trưởng chiến tranh của Rama III. Tại cửa sông Chanthaburi, các xưởng đóng tàu có không dưới 50 thuyền đã sẵn sàng, hai con thuyền trong số này có sức chở đến 300-400 tấn, 30-40 tàu chiến và một số lượng các thuyền nhỏ hơn.[41]

Một trong các nỗ lực quân sự lớn của Rama III trong việc sử dụng thủy quân chính là các cuộc viễn chinh đến miền trung bán đảo Malay những năm 1839 và 1851. Các bức thư  trao đổi giữa Rama III và các tướng lĩnh được phái đi gợi ý về vai trò của khu đóng thuyền Chanthaburi đối với sự phát triển thủy quân của Bangkok. Ví dụ như con tàu Klaeo Klang Samut, Chiến Binh Đại Dương, là con thuyền đầu  tiên mang phong cách phương Tây được đóng bởi người Xiêm. Trong khi đó Chaophraya Phrakhlang cũng được biết đến với khả năng tiếp nhận các kỹ thuật đóng thuyền của người Việt mà ông  ta có dịp đối đầu trong cuộc chiến 1834-1835. Hai trong số các loại thuyền cải tiến của Xiêm được gọi là Ruea Sisa Yuan, “thuyền có mũi kiểu Việt”, và Ruea Pom Yang, “pháo thuyền theo mô hình Việt”.[42]

Các tư liệu khác cũng đề cập đến sự mở rộng ngành đóng tàu ở Bangkok, dọc theo hai bờ sông Chao Phraya và do các thương nhân và thợ thủ công Trung Hoa làm chủ.[43]Giá thành đóng một con tàu ở Bangkok (15 dollar Tây Ban Nha trên 1 tấn trọng tải) được cho là rẻ hơn Việt Nam (16.66 dollar), Quảng Châu (20.83 dollar), và Phúc Kiến (30.58). Trước khi đến Thái Lan, Crawfurd (1820) cũng nói rằng “phần lớn các con tàu được thuê cho thương mại giữa các đảo Ấn Độ và Trung Hoa được đóng ở Bangkok, trên dòng sông lớn của Xiêm.[44]

  1. Quản lí biển và Sự xác lập chủ quyền biển hiện đại

 

Phần này đề cập đến cách thức người Thái tiến hành quản lí biển và xác lập chủ quyền biển đảo trong thời kỳ hiện đại. Quá trình này chỉ trở thành mối quan tâm thực sự của Bangkok từ những năm 1830s khi phải đối mặt với sự can thiệp trực tiếp của Anh và Pháp vào các vùng lãnh thổ xung quanh Thái Lan và gây sức ép buộc nước này phải phân định và xác lập các tuyên bố chủ quyền biển đảo, đưa chúng lên các bản đồ chủ quyền hiện đại và ký kết các hiệp ước quốc tế. Phần lớn quá trình này được thực hiện bằng cách thỏa thuận và ký các hiệp ước đối với Anh và Pháp, bắt đầu bằng hiệp ước Burney (1826), và kéo dài đến nửa sau thế kỷ XX khi Thái Lan bắt đầu quá trình tái đàm phán và điều chỉnh lại đường biên giới trên biển và quyền quản lí các đảo khi Anh Pháp rút khỏi khu vực Đông Nam Á trong quá trình phi thực dân hóa và các quốc gia dân tộc hiện đại được thiết lập: Myanmar, Malaysia, Cambodia và Việt Nam. Quá trình đàm phán và hoạch định lãnh hải và thềm lục địa này vẫn còn kéo dài đến tận ngày nay, chủ yếu là liên quan đến một khu vực chồng lấn với Cambodia dọc theo Ko Kut.

Trước khi có sự hiện diện của các tàu chiến phương Tây, biển chưa bao giờ mang đến mối đe dọa đối với người Thái. Trước đó, phần lớn các xung đột lãnh thổ, tranh chấp biên giới đều đến bằng đường bộ, chủ yếu từ Myanmar hay các nhóm người Thái phía bắc.[45] Trong nhiều cuộc viễn chinh quân sự có sử dụng thủy quân, người Thái đã phải nhờ đến tàu bècủa Việt Nam. Khi Nguyễn Ánh chiếm được Gia Định, ông đã dóng thuyền trao đổi để lấy vũ khí từ Bangkok, như đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, mọi việc đã thay đổi nhanh chóng khi người châu Âu bắt đầu chiếm các vùng đất xung quanh Thái Lan và các mối đe dọa chủ yếu lại đến từ biển. Vị trí đặc biệt của Bangkok làm nó rất dễ bị tổn thương bởi các cuộc phong tỏa biển bởi vì nó cách vịnh Thái Lan 20 km và chỉ có một con đường độc đạo có thể tiếp cận trực tiếp từ biển. Không gian chính trị mới ở khu vực đặt ra hai vấn đề mới: cạnh tranh quản lí biển và phân định các vùng biên giới theo khái niệm “quốc gia dân tộc”. Thongchai Winichakul đã phản ánh điều này khi mô tả quá trình hình thành các đường biên giới của Thái Lan hiện đại; chủ yếu thông qua các hiệp ước biên giới ký kết với người Anh và Pháp.[46] Từ trước chiến tranh Anh – Miến, người Anh đã để lộ ý đồ can dự vào tranh chấp trên bán đảo Malay và được Sultan Kedah nhượng cho Penang. Phái đoàn của công ty Đông Ấn Anh do Crawfurd dẫn đầu đến Bangkok (05/1822) mang theo tham vọng này. Tuy nhiên họ đã không thuyết phục được Bangkok trong vấn đề lãnh thổ với các tiểu quốc dọc theo  duyên hải bán đảo Malay. Khi người Anh chiếm hai vị trí duyên hải chiến lược là Mergui và Tenasserim (1825), Rama III lo lắng rằng chúng sẽ cắt Xiêm ra khỏi các cảng quan trọng này.[47] Chính vì thế, yêu cầu phản ứng của Bangkok đối với vấn đề lãnh thổ, quản lí biển càng trở nên cấp thiết. Điều này lí giải cho sự quyết liệt của Rama III trong các chiến dịch quân sự nhằm chiếm giữ các cảng biển và vùng duyên hải ngày càng có vị trí chiến lược trong bản đồ địa chính trị khu vực.Năm 1826, sau khi giành chiến thắng ở Myanmar, người Anh cử Burney đến Bangkok và sau đó hai bên ký Hiệp Ước Burney (20/06/1826) với 14 điều khoản, chủ yếu về lãnh thổ, thương mại trong đó người Anh tìm cách loại bỏ dần ảnh hưởng của Bangkok ra khỏi Perak, Ligore, và Salengore (theo điều 14).[48]

Tuy nhiên đến trước những năm 1850, sự đe đọa của phương Tây chưa phải là vấn đề thực sự nghiêm trọng đối với Bangkok, thay vào đó là những tranh chấp và mở rộng ảnh hưởng biển đảo với các vương quốc láng giềng. Từ đầu thế kỷ XIX, cả Bangkok và Huế đều tăng cường sự hiện diện tại các hòn đảo và kiểm soát duyên hải phía nam Cambodia. Báo cáo năm 1810 của sứ đoàn Việt Nam qua Bangkok đề cập đến đường ranh giới này ở vịnh Cổ Công (古公). Cả vịnh biển và hòn đảo tên Cổ Công/ Ko Kong này thuộc quyền kiểm soát của nhà Nguyễn, được vua Cambodia là Outey II (Nặc Tôn) cắt cho Hà Tiên để tạ ơn  (1757). Dọc theo cửa biển Cổ Công (古公海門) theo bờ biển về phía Tây có đồn đóng giữ với hơn 100 quân Xiêm. Đến thời Tự Đức, một phần vùng này được trả lại cho Cambodia.[49]

Cuộc chiến tranh giữa Rama III và Minh Mệnh là đỉnh cao nhất của tranh chấp biển đảo và vùng duyên hải dọc theo miền nam Cambodia. Đường tranh chấp này tạo ra một hành lang chạy từ Châu Đốc (An Giang), dọc theo kênh Vĩnh Tế, qua Hà Tiên và xuống các đảo Phú Quốc, Thổ Chu. Năm 1833-34, quân Thái Lan đã tấn công nhà Nguyễn trên khắp các khu vực này, vì thế Huế đã phải tăng cường phòng thủ vùng biển từ Hà Tiên qua đến Phú Quốc.[50] Đây là cửa ngõ để xâm nhập vào duyên hải hạ lưu sông Mekong. Tại đây có các đội thủy quân Phú Cường thuộc sở Phú Quốc (富國所) cai quản nhằm chống lại cướp biển Java (Malay) và sự xâm lấn của quân Xiêm.[51] Năm 1832, Huế xây dựng pháo đài tại Phú Quốc; năm sau, tuần phủ Hà Tiên có tấu thỉnh cho sáp nhập 13 hòn đảo xung quanh vào địa hạt Hà Tiên, trong đó có hải đảo lớn nhất là Phú Quốc và Thổ Chu.[52] Đến năm 1837, Minh Mệnh lại yêu cầu kiểm soát chặt chẽ các đảo và duyên hải trong vùng phía đông vịnh Thái Lan, thống kê dân cư trên các đảo và vẽ bản đồ dâng trình.

“Vua nghĩ ở biển Hà Tiên nhiều đảo lớn đảo nhỏ, thuyền giặc Đồ Bà thường ẩn nấp ở đấy để đón cướp, sai quan tỉnh phái người xét xem có bao nhiêu đảo, tên đảo là gì, có dân cư hay không? Cùng đường bộ cách nhau xa hay gần và hình thế thế nào, vẽ đồ bản nói rõ. Lại chỗ nào nên đặt đồn canh giữ, chỗ nào nên phái quân đón phục, tính bàn tâu lên.

Quan tỉnh liền tâu nói : “Các đảo thuộc hạt, chỉ đảo Phú Quốc có dân cư, đã đặt đồn đóng giữ, còn đảo Dương (trước gọi là hòn Ông), đảo Âm (trước gọi là hòn Bà), đảo Vu, đảo Thăng, đảo Thổ Châu, đảo Cổ Luân, đảo Thát, đều không có dân cư, xa cách đường bộ (đảo Dương, đảo Âm đều cách 4 ngày đường đi thuyền, đảo Vu 3 ngày, đảo Thăng 2 ngày, đảo Thổ Châu, đảo Cổ Luân đều 2 ngày rưỡi, đảo Thát 1 ngày). Lại không có hình thế để đón đồn đặt phục binh được, hằng năm cứ tháng 3 tháng 4 là kỳ gió nam, thuyền giặc hoặc tạm đậu ở đảo Âm, đảo Dương, đảo Thăng, đảo Thổ Châu 1, 2 ngày, lại tan đi 4 ngả ăn cướp.Tháng 9 tháng 10, mùa gió đông bắc, hoặc ở đảo Vu, đảo Cổ Luân, đảo Thát bỏ neo 1, 2 ngày vững bền, rồi lại chạy về, chưa từng ở lâu đến 5, 6 ngày, đã hỏi người địa phương sở tại, lời nói đại khái giống nhau. Xét ra chiểu theo phận biển, hòn đảo nhiều ngả mà giặc biển đậu lại bất thường, có khi ở đảo này, có khi ở đảo khác, chả qua 1, 2 ngày để đợi chiều gió rồi đi, các thuyền quân đi tuần tiễu, xin theo dụ trước, cứ tháng 4 thì phái đi, tháng 10 rút về, không phải làm đồn bảo làm gì.”[53]

Rõ ràng là đến những năm 1840, Huế đã giành được ưu thế trong việc kiểm soát các hòn đảo và vùng duyên hải phía đông vịnh Thái Lan. Mạng lưới quân sự, thương mại của Hà Tiên và chúa Nguyễn, đặc biệt là thời Nguyễn Ánh cho thấy sự hiện diện áp đảo và ưu thế của người Việt trên các đảo và duyên hải tại đây với hiểu biết địa lý và các đồn bảo quân sự. Báo cáo ghi chép về các con đường thủy bộ từ hạ lưu sông Mekong qua Bangkok (1810) của Tống Phúc Ngoạn, Dương Văn Châu đề cập chi tiết hơn 300 địa danh khác nhau với 51 cửa biển chạy từ cửa sông Mekong đến duyên hải bán đảo Malay, đặc biệt là tuyến đường thủy dọc ven biển (涯海水程), đường ngoài khơi (洋海水程), và các tuyến ngang dọc trong vịnh.[54]

Tri thức biển đảo và khả năng tương tác biển của Thái Lancũng được thể hiện thông qua sự phát triển của kỹ thuật vẽ bản đồ các vùng biển và duyên hải. Một bộ sưu tập 17 bản đồ được vẽ đầu thế kỷ XIX, sau hơn 150 năm bị lãng quên, được phát hiện trong một chiếc tủ ở hoàng cung Bangkok (1996). Các tấm bản đồ vẽ trên vải, có tấm kích thước 5.17 x 3.88 m, vẽ chi tiết các vùng lãnh thổ, vùng ảnh hưởng và cả các nước láng giềng của Thái Lan. Sự chính xác và chi tiết của các tấm bản đồ này về các đường duyên hải, cửa sông và vị trí các đảo cho thấy người Thái đã gia tăng hiểu biết địa lý của mình đối với vùng vịnh Thái Lan, đặc biệt là bán đảo Malay và hạ lưu sông Mekong. Điều này không chỉ đến từ việc tiếp nhận các kỹ thuật và tri thức đồ bản từ phương Tây, mà quan trọng hơn là mối quan tâm thường xuyên của người Thái đối với khu vực biển này đã gia tăng đáng kể cùng với sự cạnh tranh kiểm soát và xác lập chủ quyền với Việt Nam và các nước Phương Tây. Bốn trong số các bản đồ này là về bán đảo Malay. Bản đồ Muang Nakhon Si Thammarat mô tả bán đảo Malay và các đảo xung quanh cả Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Bản đồ về Muang Thalang và Muang Lakhon tập trung mô tả khu vực miền trung bán đảo Malay từ Phu Ket kéo dài xuống các Hồi quốc nằm dưới sự kiểm soát của Bangkok. Vùng duyên hải phía tây Thái Lan cũng được phản ánh trên bản đồ Muang Thawai, bao gồm các vùng đất ở tây Thái Lan và nam Myanmar, từ Tavoy chạy dọc theo vịnh Mataban với đường bờ biển tương đối chính xác và tỉ lệ bản đồ là 1: 250.000, là tỉ lệ chuẩn phổ biến của các bản đồ hiện đại.Các bản đồ khác vẽ đường duyên hải và các đảo ở hạ lưu sông Mekong và bán đảo Cà Mau (Muang Phrataphang), nơi người Thái có các cuộc viễn chinh quân sự trong những năm 1830.[55] Số lượng lớn các bản đồ trong bộ sưu tập này về bán đảo Malay và các đảo dọc hai bên bờ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương cũng cho thấy mối quan tâm lớn của Xiêm đối với khu vực này, đặc biệt là từ cuối thời Rama III, Bangkok đẩy mạnh các cuộc viễn chinh nhằm kiểm soát các hồi quốc và ngăn chặn sự bành mở rộng của người Anh lên phía Bắc.

Những bản đồ tiếp sau đó người Thái vẽ liên quan đến các đường biên, duyên hải và đảo sẽ nằm dưới sức ép của Anh và Pháp. Trước những năm 1880, các bản đồ của Thái Lan chưa có các đường biên giới cụ thể và rõ ràng. Chỉ có một số đường được xác định chung chung để phân định ranh giới với Kedak và Kelantan ở phía nam. “Biên giới” với Cambodia là đường cắt ngang qua Battambang và Siem Reap xuyên qua Biển Hồ. Các đường biên giới với Lào và Myanmar không tồn tại.[56]

Vì thế, khi buộc phải ký các hiệp ước phân định biên giới, và công nhận Lào, Cambodia, và Malaysia là các quốc gia, lịch sử dân tộc chủ nghĩa Thái Lan trong thế kỷ XX coi đó là thất bại mất đất, mất lãnh thổ, bị phương Tây xử ép để lấy đi các vùng “lãnh thổ” thuộc ảnh hưởng, bao gồm: Lào, Cambodia, Tây Bắc Việt Nam (Sipsong chau Tai), và các vương quốc hồi phía bắc Malaysia ngày nay.[57]Điều này rõ ràng đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức nước Thái Lan hiện đại thể hiện quyền kiểm soát và xác lập chủ quyền biển đảo của mình. Khi người Pháp tiến vào Lào năm 1893, Bangkok đã phản ứng dữ dội. Hệ quả của cuộc tranh chấp này là chiến tranh Pháp-Thái.

 

14081347_304318983254956_1493673568_n

Bản đồ Muang Nakhon Si Thammarat: Bán đảo Malay và các đảo

Nguồn: Santanee Pasuk and Philip Stott, Royal Siamese maps, p. 147

Thời kỳ Rama V (Chulalongkorn, 1868-1910) đánh dấu sự thay đổi căn bản về quan niệm về lãnh thổ biên giới nói chung và việc xác lập chủ quyền biển đảo nói riêng thông qua các hiệp ước với phương Tây. Từ cuối thế kỷ XIX, căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ giữa Thái Lan và Anh, Pháp quanh vấn đề Malaysia, Myanmar, Cambodia và Lào gia tăng. Đáp trả sự gia tăng ảnh hưởng của Xiêm tại miền trung bán đảo Malay, năm 1862, Anh phái tàu đến bắn phá Trengganu đang thuộc kiểm soát của Bangkok. Vấn đề bảo vệ lãnh thổ và quản lí biển đối với Siam được đặt ra cấp thiết trong khung cảnh Việt Nam và các nước láng giềng bị thực dân hóa. Một bức thư của vua Rama IV gửi sứ bộ tại Paris năm 1866  phản ánh nỗ lực của Xiêm trong tình cảnh khó khăn:

“Việc chúng ta giữ được nhà và ở trên đất của mình cũng là đủ rồi. Có lẽ là cần thiết nếu chúng ta bỏ đi một vài khu vực ảnh hưởng và các quyền lực cũ. Trong tình thế của chúng ta hiện nay, bị bao vây hai, ba phía bởi các quốc gia hùng mạnh, một nước nhỏ như chúng ta có thể làm được gì? Giá như chúng ta tìm được một mỏ vàng, từ đó có hàng triệu lạng vàng, đủ để mua hàng trăm tàu chiến; thậm chí với điều đó, chúng ta vẫn không thể đánh bại họ, vì chúng ta phải mua những tàu chiến giống y thế và tất cả vũ khí từ nước họ. Chúng ta chưa thể sản xuất các thứ này, và thậm chí, chúng ta có đủ tiền để mua chúng đi chăng nữa, họ có thể thường xuyên ngừng việc bán cho chúng ta bất cứ khi nào họ cảm thấy chúng ta đang vũ trang cho mình quá mức. Thứ vũ khí duy nhất thiết thực cho chúng ta trong tương lai là miệng lưỡi và con tim hướng đến nỗ lực và mong muốn bảo vệ chúng ta tốt hơn.”.[58]

Khi người Bangkok bắt đầu chú ý đến biển và phát triển hải quân, họ nhận ra rằng biển, quản lí biển và thủy quân trên biển không phải là mối quan tâm hàng đầu của người Thái trước thế kỷ XIX. Cuốn sách về nghệ thuật quân sự chịu ảnh hưởng Hindu giáo Tama Phichaisongkhram (Nghệ thuật chiến tranh) là tài liệu binh pháp quan trọng nhất từ thế kỷ XV, thời Ramathibadi II Ayutthaya đến Rama IV Mogkut của vương triều Bangkok (1868) hầu như không đề cập đến hải quân, chiến thuật và tổ chức của hải quân.[59] Tuy nhiên, chúng ta biết là thủy quân trên sông và ven bờ đóng vai trò quan trọng trong lịch sử quân sự Thái Lan. Các kinh đô của người Thái ở Ayutthaya, Thonburi và Bangkok đều được xây dựng trên bờ sông Chao Phraya, không quá 90 km từ cửa biển. Chúng được tiếp sức và trở nên thịnh vượng nhờ thương mại biển. Từ nửa sau thế kỷ XVII, vua Narai của Ayutthaya đã phái sứ đoàn đến vua Luois XIV của Pháp và nhận giúp đỡ để xây dựng hải quân, các pháo đài ven sông để trấn giữa vùng cửa sông ở Bangkok. Tuy nhiên, những xung đột và tranh chấp quyền lực sau đó đã làm mất niềm tin của Siam vào người nước ngoài, và làm giảm vai trò của họ đối với các chính sách hướng ra biển của Xiêm cho đến giữa thế kỷ XIX, Bangkok bắt đầu đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa thủy quân theo hướng phương Tây. Ghi chép của toàn quyền Hong Kong John Bowring (1855) về thủy quân của Bangkok cho thấy:

“Lực lượng hải quân của Xiêm có khoảng 500 chiến thuyền và 20 thuyền buồm vuông. Các thuyền buồm này chủ yếu nằm dưới sự chỉ huy của người Châu Âu. Chỉ trong vòng vài năm, các thói quen hàng hải của người Xiêm đã được thay thế dần bằng sự hiện diện của người nước ngoài, và có thể sẽ dẫn đến việc tạo ra một hải quân mạnh, hùng mạnh như bất cứ nước láng giềng nào của họ”.[60]

Bản thân sự phát triển của thủy quân Xiêm dưới thời Rama III và IV cũng cho thấy họ chủ yếu hoạt động trên các khu vực ven bờ vịnh Thái Lan và trên các dòng sông. Thực tế, người Malay, Việt, Khmer và Hoa là những sắc dân kết nối các tuyến giao lưu và các hòn đảo trong vịnh Thái Lan. Vai trò của Hà Tiên, Hồi quốc trên bán đảo Malay, Hoa kiều, và người Việt, như đã trình bày trên, là khá rõ ràng; trong khi tư liệu của Thái ít đề cập đến sự hiện diện cư dân tại các hòn đảo này, cũng như quá trình chinh phục biển mờ nhạt của người Thái. Điều này đối lập với việc các thương nhân phương Tây và các nhà hàng hải nhận thức tầm quan trọng của các hòn đảo trong vùng vịnh và thường mô tả về chúng rất chi tiết. John Bowring (1855) dành nhiều chi tiết cho các hòn đảo này, dù không thấy ông đề cập đến sự hiện diện của người Thái hay thủy quân Thái ở đây. Ông mô tả suốt dọc duyên hải từ Kamao (Cambodia) đến Lem Sam Mesan (mũi Liant các chỉ dẫn địa lý phương Tây) là một chuỗi quần đảo. Ông này sau đó đã ghé qua Pulo Uri, nơi chỉ có một gia đình Cochinchinese (Việt) và 2-3 gia đình người Hoa sinh sống để thu nhận sản vật biển và cung cấp nước ngọt cho tàu bè qua lại.[61]

Trong bối cảnh đó, mối quan tâm của Thái Lan đối với biển vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX rõ ràng là một sự phản ứng đối với mạng lưới thực dân do Anh và Pháp xây dựng. Dù hai nước này đã thỏa thuận với nhau về việc giữ nền độc lập của Thái Lan (1896) nhưng Bangkok bị kẹp giữa trong tình thế phải thỏa hiệp và chấp nhận các ý niệm mới về lãnh thổ, lãnh hải và đường biên giới áp đặt bởi phương Tây.[62] Thái Lan buộc phải đáp lại bằng nỗ lực xác định và tìm cách tuyên bố các đường biên giới cả trên bộ lẫn trên biển. Cuốn sách giáo trình địa lý đầu tiên bắt đầu xuất hiện ở Xiêm năm 1874, viết bởi một nhà truyền giáo người Mỹ, J. W. Van Dyke. Ngay sau đó vua Rama V bắt đầu thiết lập trường vẽ bản đồ ở Bangkok (1882). Mười năm sau, bộ trưởng giáo dục, hoàng tử Damrong bắt đầu yêu cầu đưa môn địa lý thành bắt buộc vào trong nhà trường.[63] Song song với nó là sự mở rộng của hải quân. Năm 1898, Rama V thành lập Học Viện Hải Quân Hoàng Gia.[64] Từ 1865 khi người Anh đe dọa phong tỏa Bangkok, Rama V hiểu rõ rằng nếu không có hải quân mạnh, các nước phương Tây sẽ dễ dàng phong tỏa Thái Lan bằng cách án ngữ cửa sông Chao Phraya và không cho Bangkok liên hệ với biển. Vì thế ông đã thành lập Văn Phòng Chiến Tranh, có nhiệm vụ hiện đại hóa quân đội và hải quân do hoàng tử Phanurangsi Sawangwong phụ trách (1887). Trước đó bộ Chiến Tranh (Kalahom) chỉ phụ trách các vấn đề miền nam Thái Lan. Từ năm 1892, lực lượng hải quân được đưa về Bộ này và 2 năm sau đó, Văn phòng Chiến Tranh cũng được sáp nhập.[65] Các nhân viên nước ngoài được sử dụng rộng rãi trong hải quân để thực hiện nhanh nhất quá trình hiện đại hóa mà đông đảo nhất là người Đan Mạch.[66]Các hoàng tử và thành viên hoàng gia khác cũng được cử sang Châu Âu học về hải quân nhưMomratchawong Sathan và Momratchawong Phin Sanitwong tốt nghiệp ở Đan Mạch, và Phraya Surasena (Klin SaengXuto) được đào tạo ở Áo.[67] Một trong những gương mặt hải quân khác cũng được đào tạo ở nước ngoài là hoàng tử Abhakara Kiartivongse (1880–1923), con thứ 28 của vua Rama V. Ông được đào tại Anh, và sau đó phục vụ trong hải quân hoàng gia với nhiều đóng góp lớn trong việc hiện đại hóa lực lượng này. Chính ông vào năm 1922 đã nhìn thấy vai trò của vịnh Sattahip và biến nó thành căn cứ hải quân lớn cho đến tận ngày nay, vì thế, ông được mệnh danh là “người cha của hải quân hoàng gia”.

Không cần phải đợi lâu, quá trình hiện đại hóa hải quân này nhanh chóng được kiểm nghiệm, và nó cho thấy phải mất rất lâu sức mạnh quân sự của Thái Lan mới cho phép nó bảo vệ các vùng biển, đảo và duyên hải mà Bangkok từng ảnh hưởng và kiểm soát trong nhiều thế kỷ. Vào năm 1855, Bangkok buộc phải ký hiệp ước Bowring, dựa theo mẫu hình của Hiệp Ước Nam Kinh mà Anh ký với nhà Thanh. Hiệp Ước Bowring là một thất bại lớn của chính sách ngoại giao của Thái Lan, một trong những hiệp ước bất bình đẳng nhất đã từng được ký kết giữa thực dân Châu Âu và một nước Châu Á. Theo đó, Xiêm buộc phải mở cửa toàn bộ thị trường trong nước cho thương nhân Châu Âu, hạ thuế, và hầu như đánh gục tất cả độc quyền kinh tế của vương triều. Đến năm 1892, 93% xuất nhập khẩu của Thái Lan là với Anh.[68] Cũng vì thế, từ những năm 1880, các khu vực biển và duyên hải thuộc kiểm soát của Thái Lan ở bán đảo Malay  và duyên hải vịnh Bengal bắt đầu chịu sức ép của người Anh một cách mạnh mẽ. Giữa 1883-1885, các khu định cư eo biển (Straits Settlements) bắt đầu tìm cách sáp nhập Kelantan và Trengganu.

Năm 1893, khi người Pháp tiến vào Lào và viên thanh tra cảnh sát Grosgurin bị quân Thái mai phục giết chết ở Kham Muon. Pháp ngay sau đó phái hai tàu chiến là Inconstant và Comète đi ngược sông Chao Phraya một cách bất hợp pháp, tiến thẳng lên Bangkok. Ngày 13/06/1893, hai tàu quân sự đụng độ với quân Thái ở pháo đài Paknam, bẻ gẫy sự chống cự của quân Thái và tiến đến Bangkok cho đến khi các họng súng chĩa thẳng vào hoàng cung. Pháp sau đó phong tỏa bờ biển của Thái Lan và kiểm soát tàu bè qua lại ở Chao Phraya. Không có sự giúp đỡ của người Anh, Bangkok cuối cùng từ bỏ Lào, chấp nhận bồi thường 2 triệu francs cho sự kiện Paknam. Pháp được tạm thời chiếm Chanthaburi. Bangkok từ bỏ tất cả lãnh thổ và vùng ảnh hưởng phía đông sông Mekong, phi quân sự hóa Battambang, Siem Reap và dọc theo hành lang 25 km bên bờ tây sông Mekong.[69]

Đây rõ ràng là một thất bại lớn của Thái Lan về quân sự và lãnh thổ kể từ công cuộc cải cách của Chulalongkorn. Sự kiện cũng đặt ra vấn đề đối với việc kiểm soát biển, nâng tầm hải quân và tuyên bố chủ quyền biển của Bangkok. Dù đường biên Thái – Cambodia được định đoạt bằng hiệp ước 1867 và Thái – Myanamar qua các hiệp ước 1866, 1868, tuy nhiên, việc xác định các đường ranh giới trên biển và quyền kiểm soát các hòn đảo phức tạp hơn rất nhiều. Một trong những vấn đề nảy sinh trong đàm phán biên giới biển giữa Thái Lan và Myanmar là tranh chấp xung quanh các quần đảo nằm ngoài khơi, phía bắc Phuket.[70]

Trong những năm cuối của thế kỷ XIX đến 1909 là giai đoạn cuối cùng người Thái hoàn tất các hiệp định phân định vùng kiểm soát biển, duyên hải và các đảo cả trên bờ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Bangkok đã nỗ lực trong việc duy trì sự hiện diện của mình ở bán đảo Malay và trên các đảo trên Ấn Độ Dương như các chuyến thăm của vua Rama V đế Kelantan và Trengganu vào 1889 và 1890 và khuyến khích các Sultan này đến Bangkok (1897, 1902). Họ cũng sử dụng cả “chiến thuật” hiện đại hóa của phương Tây, như là xây dựng hệ thống bưu chính sử dụng các con tem của Xiêm tại Trengganu (1892).[71] Mặc dù vậy, Thái Lan vẫn chưa đủ sức mạnh quân sự và tài chính cần thiết để có thể cạnh tranh về lãnh thổ một cách ngang ngửa với các cường quốc phương Tây. Vì cần tiền cho dự án đường sắt từ Bangkok đến Trang (Rama V coi đường sắt là trụ cột của hiện đại hóa nước Xiêm), Bangkok đã ký với Anh Hiệp Ước 1909 trong đó công nhận các nước chư hầu Malay Kedah, Perlis, Kelantan, và Trengganu thuộc sự bảo hộ của người Anh. Đổi lại, Xiêm được phục hồi các điều khoản về chủ quyền lãnh thổ bị tước đoạt từ hiệp ước Bowring (1855) và được vay 4 triệu Bảng với lãi suất 4%.[72]

Chặng cuối cùng của quá trình xác lập lãnh thổ trên biển, duyên hải trên bán đảo Malay và các đảo dọc theo duyên hải là việc chuyển đổi vùng bảy vương quốc ở Pattani (Pattani, Nong Chik, Sai Buri, Yala, Yaring, Re-ngae, và Reman) từ các chư hầu (prathesaraj) thành các đơn vị hành chính trực thuộc Bangkok quản lí. Đến 1906, các tỉnh này được đặt dưới đơn vị hành chính Monthon Pattani, và đến 1909 thì Xiêm chính thức thiết lập khu vực này như một đơn vị hành chính trực thuộc.[73] Sự xóa bỏ các mối quan hệ chư hầu và xác lập quản lí lãnh thổ hành chính hiện đại là sự thay đổi dưới xúc tác của phương Tây trong tiến trình nhận thức về biển đảo và cách thức quản lí biển đảo của người Thái. Về phía đông của vịnh Thái Lan, năm 1907, Pháp (nhân danh Cambodia) ký với Bangkok hiệp ước lãnh thổ trong đó có việc phân chia vùng lãnh hải giữa hai nước ở phía đông vịnh Thái Lan, lấy đảo Kut làm gianh giới.

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là giữa 1970 và 1992, Văn phòng thủ tướng Thái Lan đã ba lần ra tuyên bố về các đường lãnh hải: 11.06.1970, 11.08.1992 và 17.08.1992 với bốn đường lãnh hải, ba đường nằm trong vịnh Thái Lan và một đường nằm gần eo Malacca. Theo đó, đường bờ biển của Thái Lan chiếm hơn một nửa chu vi của vùng vịnh, và có đường lãnh hải chung với các nước Cambodia (phía đông vịnh Thái Lan), Malaysia phía nam bán đảo Malay (gồm cả trên biển Andaman và phía tây vịnh Thái Lan).[74]

14137674_304319019921619_1014040803_n

Tuy nhiên, những đường lãnh hải được tuyên bố của Thái Lan cũng đã vấp phải sự phản đối từ các nước láng giềng, đặc biệt là trong việc vận dụng các hiệp ước mà trước đó thực dân phương Tây thay mặt Cambodia, Malaysia hay Myanmar ký với  Xiêm. Một trong những tranh chấp gần đây nhất là giữa Thái và Cambodia trong việc diễn dịch các điều khoản của hiệp ước Pháp-Xiêm 23.03. 1907. Theo hiệp ước này, Pháp nhường cho Xiêm tất cả các hòn đảo phía nam của mũi Lemling (bao gồm cả Ko Kut);  và đường biên giữa Xiêm với French Indochina “bắt đầu từ biển, tại điểm đối diện với điểm cao nhất của Ko Ku. Từ điểm này, nó đi theo hướng đông bắc đến điểm Phnom Krevanh.”[75] Từ những năm 1950s, chính quyền Norodom Sihanouk bắt đầu xác lập chủ quyền biển trong vùng vịnh Thái Lan bằng các tuyên bố 1957, 1972.Cambodia đã gây ra tranh chấp thềm lục địa với Thái Lankhi nước này vẽ đường thềm lục địa ngay kề với vùng biển của Thái Lan gần đảo Kut (Ko Kut). Đường này đi xuyên qua đảo Kut vào vịnh Thái Lan trước khi vòng xuống phía nam, tạo ra khoảng từ 27,000 đến 30,000 km vuông thềm lục địa chồng lấn giữa hai nước.[76]

Người Thái giải thích rằng lời lẽ của hiệp ước 1907 cho thấy Ko Kut thuộc về Thái Lan và không có lí do để chia hòn đảo này thành hai phần. Trong khi Cambodia lập luận Hiệp ước 1907 chỉ lấy điểm cao nhất của Ko Kut làm mốc, chứ không nói hòn đào này thuộc về Thái Lan. Mặc dù từ năm 2000 đến nay, cả hai nước đã nỗ lực đàm phán để đi đến cách hiểu chung, vấn đề đi đến một cách hiểu chung và thống nhất vẫn còn là một thử thách.

 

  1. Biển và Lịch sử Thái Lan

 

Biển đã định hình nên mô hình lịch sử Thái Lan mang tính quốc tế hóa, toàn cầu hóa cao độ. Bằng cách tạo ra môi trường giao lưu quốc tế lâu dài giữa nhiều nhóm người với các nền văn hóa đa dạng, nó làm cho xã hội Thái Lan có tính mở và linh hoạt trong việc phản ứng với các tác động từ bên ngoài nhằm duy trì sự ổn định của cấu trúc chính trị – xã hội bên trong.

Cuộc tìm kiếm vai trò của nhân tố biển trong lịch sử Thái Lan có lẽ bắt đầu xuất phát từ các tranh luận liên quan đến mô hình quốc gia nông nghiệp và quốc gia thương mại ở Đông Nam Á. Trong nhiều thập kỷ, các sử gia Thái, đặc biệt là trường phái sử học Marxit đã phác họa Thái Lan như là xã hội nông dân (peasant society), ở đó  biển và thương mại hàng hải là thứ yếu.[77] Tuy nhiên, nghiên cứu sau đó của Hong Lysa, Hans-Dieter Evers, Jenifer Cushman, Dhiravat Na Pombejra, Sarasin Viraphol, Bhawan Ruangsilp, Nidhi Eoseewong đã gợi ý một cách nhìn khác mà biển có thể mang lại để hiểu diễn trình của lịch sử Thái Lan trong nhiều thế kỷ qua.[78]

Khi Ayutthaya được mô tả như Venice của phương Đông và Sir John Bowring gợi ý rằng vào giữa thế kỷ XIX, Bangkok trở thành thành phố thương mại biển lớn thứ 3 ở bờ đông của mũi Hảo Vọng (1855),[79] rõ ràng là biển đã đặt một dấu ấn lên lịch sử phát triển của vương quốc này. Người ta có thể tìm thấy dấu ấn của nó ở bất cứ đâu trong nền văn hóa, tín ngưỡng hay cấu trúc xã hội và tư duy chính trị. Biển hiện hữu từ trong tín ngưỡng tôn thờ các biểu trưng của nước, như rắn Naga cho đến các mối quan hệ kinh tế – chính trị trong hoàng cung Bangkok:

“Thương nhân nước ngoài

Mang các hàng hóa đặc biệt đến dâng lên nhà vua

Nhiều, rất nhiều châu báu

Được ban phát như bổng lộc hàng năm

Những người lính xung quanh nhà vua

Trở nên giàu có như những triệu phú

Tất cả mọi người đều hạnh phúc và hồ hởi

Trong tất cả ngày và đêm, tháng và năm”.[80]

Biển hiện diện trong đời sống văn hóa, xã hội khi mang đến sự thịnh vượng và một xã hội đa dạng, gắn liền với sự giao lưu giữa các cộng đồng khác nhau.  Ít có xã hội nào ở Đông Nam Á trước thế kỷ XIX có được sự đa dạng sắc tộc, tôn giáo, văn hóa và tính đan xen, trộn lẫn của các cộng đồng bản địa và bên ngoài như ở Ayutthaya và Bangkok:

“Thương nhân từ nhiều nơi, đến từ các nước bên ngoài

Tàu của họ neo trên cảng

Thuyền buồm của người Hồi, tàu buôn của người Hà Lan

Tàu của người Hoa, Campa, Ache, những người la hét om xòm

Mười hai ngôn ngữ hòa cùng lúc”.[81]

Các mối tương tác từ biển định hình tính đa dạng xã hội, tính linh hoạt của nền chính trị, tính năng động kinh tế và cấu trúc đô thị ở Thái Lan từ thời sơ kỳ hiện đại. Ayutthaya, Thonburi và Bangkok đều là các đô thị hướng biển, có cấu trúc mở dọc theo lưu vực sông và hướng ra biển.[82]  Sự cởi mở này đưa đến một nền chính trị đa dạng, sẵn sàng mở cửa cho sự tham dự của các nhóm bên ngoài, những người đến Thái Lan từ biển, thông qua giao lưu thương mại và ngoại giao. Và họ đã ở đó, những người như Yamada Nagamasa, Constantine Phaulkon và các thương nhân Hoa kiều dưới vương triều Ayuthtaya, cho đến các viên chức dân sự và nhân viên quân sự phương Tây phục vụ dưới thời Rama IV và V.[83]

Cũng chính vì thế, biển giữ nhịp thăng trầm của lịch sử xã hội, kinh tế và chính trị Thái Lan khi tất cả những chuyển biến quan trọng đều đến từ biển, thông qua con đường tiếp xúc hàng hải. Biển có thể mang lại sự thịnh vượng khi các con tàu thương mại Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha cập bến Aytthaya, nhưng biển cũng mang lại tai họa khi người Pháp bắn phá Paknam, chĩa họng súng vào hoàng cung bên bờ Chao Phraya và phong tỏa cửa vịnh Thái Lan. Khả năng đàn hồi cao độ và phản ứng tốt với thách thức đến từ bên ngoài là một đặc trưng quan trọng, phản ánh dấu ấn của biển đối với lịch sử Thái Lan, giúp cho người Thái có thể linh hoạt ứng đối với các tác động từ bên ngoài, giữ cho lịch sử của họ hòa nhập với nhịp điệu biến đổi của khung cảnh khu vực và toàn cầu. Sự trỗi dậy nhanh chóng của Thonburi và Bangkok là ví dụ của việc biển và thương mại biển mang lại sức mạnh cho sự phục hồi của Thái Lan. Khi Myanmar bao vây Ayuthtaya trong 1 năm và phá hủy tất cả thành phố này năm 1767, toàn bộ hoàng gia và hơn 100,000 gia đình đã bị bắt đi. Trong vòng 3 năm, người Thái hầu như không thể canh tác.[84] Nhưng chỉ bốn năm sau họ đã trở lại, và người ta thấy Phya Taksin đánh chiếm Hà Tiên cùng lúc với 2 vạn bộ binh đánh vào Cambodia. Người ta cũng thấy tính mềm dẻo và linh hoạt đó trong 6 thập kỷ Xiêm đối mặt với các thế lực phương Tây, đàm phán về chủ quyền lãnh thổ và tận dụng các nguồn lực để hiện đại hóa quốc gia và củng cố chủ quyền dân tộc.

KẾT LUẬN

Thập kỷ vừa qua cho thấy nỗ lực quan trọng của các nhà nghiên cứu lịch sử, kinh tế và chính trị học nhằm thay đổi góc nhìn về Đông Nam Á bằng cách nhấn mạnh hơn tính năng động, dẫn dắt và vai trò của biển trong việc định hình các diễn trình lịch sử, đặc trưng văn hóa, sự hưng vong của các xã hội hay các nền văn minh.[85] Leonard Andaya (University of Hawai’i-Manoa) trong báo cáo gần đây kêu gọi các sử gia hãy có cái nhìn sâu sắc và kỹ lưỡng hơn về biển (a gaze toward the sea). Ông lập luận rằng khi ngành nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á đang mở rộng và sử gia cần tìm kiếm những khung cảnh mới thì viễn cảnh biển (the sea perspective), lấy biển và các miền duyên hải làm trung tâm có thể định hình nhiều cách hiểu mới về quá khứ. [86]

Biển đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các mối giao lưu quốc tế và tương tác toàn cầu. Tuy nhiên đó không phải là một hiện tượng mới. Quá trình tương tác, quản lí và xác lập chủ quyền biển của người Thái trong quá khứ cho thấy trong nhiều thế kỷ qua, biển luôn đóng vai trò trung tâm trong những chuyển biến của Thái Lan, cả cơ hội và thách thức. Mối quan hệ giữa người Thái và biển có thể là một mẫu hình quan trọng cho cấu trúc này ở Đông Nam Á bởi tính thường xuyên, liên tục và khả  năng can dự của biển vào những bước ngoặt của lịch sử Thái Lan. Người Thái và biển không đơn thuần là sự tương tác giữa con người với tự nhiên mà là hành trình của một tộc người trên đường mở rộng lãnh thổ, hướng ra biển và tương tác với các nhóm cư dân khác thông qua môi trường biển. Vì thế, biển không chỉ là khung cảnh tự nhiên mà còn là không gian kết nối và cạnh tranh của nhiều khuynh hướng phát triển lịch sử khác nhau: mở rộng lãnh thổ, xu hướng giao lưu và khép kín, tiếp xúc giữa các nền văn hóa, văn minh; để từ đó định hình nên các cấu trúc chính trị xã hội mới giữ cho xã hội tiếp tục phát triển và phản ứng thành công đối với các nguy cơ từ bên ngoài và mâu thuẫn bên trong.

Trong bảy thế kỷ qua, tương tác giữa người Thái và biển chính là mô hình của một xã hội tìm đường ra biển, là sự kết hợp của các tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á gió mùa, tôn thờ thần nước và các biểu tượng của nước với sự pha trộn tinh thần Phật giáo và Hindu giáo, sự tận dụng vị trí địa lý thuận lợi và các nguồn tài nguyên thiên nhiên để can dự vào các xu hướng mà biển mang lại, sử dụng biển như một nguồn lực về kinh tế và quân sự để mở rộng ảnh hưởng khu vực. Trong thời  kỳ thực dân hóa ở Đông Nam Á, khi biển trở thành sân khấu lớn của các tranh chấp, giành giật thuộc địa, đó cũng là nơi người Thái đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải chống lại chủ nghĩa bành trướng phương Tây, ít nhất là trong vòng 54 năm từ khi ký kết Hiệp ước Bowring cho đến khi nó được xóa bỏ (1855-1909). Cuộc xung đột này không chỉ liên quan đến việc phân chia lãnh hải, các đảo, vẽ đường biên trên bộ, trên biển mà còn là cuộc xung đột giữa hai hệ thống quan niệm về địa chính trị và không gian quyền lực. Một bên trong đó là nước Xiêm vói ý niệm lãnh thổ truyền thống (Chakravatin: vua của toàn vũ trụ)  với các đường biên không xác định và một bên là ý niệm quốc gia dân tộc hiện đại của phương Tây trong đó tất cả các đường biên phải được vẽ thành bản đồ và được công nhận qua hiệp ước quốc tế.[87]

* Đại học sư phạm Hà Nội. Bài viết này được tài trợ bởi đại học Quốc Gia Hà Nội theo đề tài khoa học QG.15.51

[1] Sunthon Phu, Prachum nirat sunthon phu lae khlong but kap khong sit [Sưu  tập các bài nirat của Sunthon Phu và các môn đệ], biên tập bởi Nai Chan Khamwilai: Bangkok, 1960, p. 665

[2] Xem thêm các giả thuyết về nguồn gốc và quá trình di của của người Thái trong  David K. Wyatt, A short history of Thailand (Chiang Mai: Silkwormbooks: 2004), pp. 1-16; và Liang Yongjia, Inalienable Narration: The Nanzhao History between Thailand and China. Working paper Series. No. 148, Asia Research Institute, National University of Singapore, 2010; www.ari.nus.edu.sg/wps/wps10_148.pdf (truy cập 10.11.2015)

[3] Derick Garnier, Ayutthaya: Venice of the East. Bangkok: River Books, 2004

[4] Charnvit Kasetsiri, The rise ofAyudhya: A history of Siam in the fourteenth and fifteenth centuries (Kuala
Lumpur: Oxford University Press, 1976); David K. Wyatt, A short history of Thailand. Chiang Mai: Silkworm Books, 2003, pp. 52-63; Sisak Wanliphodom [Srisakara Vallibhotama], Say am prathet [Đất nước Xiêm], Bangkok: Matichon, 1991, pp. 279-80

[5] Chris Baker, Ayutthaya Rising: From Land or Sea? Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 34, No. 1 (Feb., 2003), pp. 41-62.

[6] Xem thêm Dougald J. W. O’Reill, Early Civilizations of Southeast Asia. Lanham-New York-Toronto-Plymouth,UK: Altamirav Press: 2007, pp. 37-64; Micheal Jacq-Hergoualc’h. The Malay Peninsula: Crossroads of the Maritime Silk-Road (100 Bc-1300 Ad). Brill: Leiden, 2002

[7] Hans-Dieter Evers, Trade and State Formation in the Early Bangkok, Modern Asian Studies, Volume 21, Issue 04 (October 1987), p. 756

[8] Helen James, “Tenasserim, in Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor, Volume 1, edited by Keat Gin Ooi, Santa Barbara, California – Denver, Colorado – Oxford, England: ABC-CLIO, Inc., 2004, pp. 1318-19

[9] Ian C. Glover, Early Trade between India and Southeast Asia: A Link in the Development of a World Trading System. Hull University, 1989; Ian C. Glover, “The Southern Silk Road: Archaeological Evidence of Early Trade between India and Southeast Asia”, in Vadime Elisseeff. The Silk Road: Highways of Culture and Commerce. New York-Oxford: Berghahn Books and UNESCO Publishing: 2000, pp. 93-121; Dhida Saraya, Sri Dvaravati: the initial phase of Siam’s history.  Bangkok: Muang Boran, 1999; Lương Ninh, Vương Quốc Phù Nam,Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009, chương 2-3.

[10] Anthony Reid, Chinese Trade and Southeast Asia Economic Expansion in the late 18 and early 19th centuries: An Overview. In Li Tana and NolaCooke. Eds. Water Frontiers., pp. 30-32

[11] Về Trai Phum, xem Frank E. Reynolds and Mani B. Reynolds. Three Worlds according to King Ruang. California: the Regents of theUniversity of California, 1982

[12] Thongchai Winichakul, Siam Mapped, p. 29

[13] Thongchai Winichakul, Siam Mapped, pp. 20-36

[14] Sumet Jumsai, Naga: cultural origins in Siam, pp. 24-25

[15] Engelbert Kaempfer. A description of the Kingdom of Siam 1690. Bangkok : White Orchid Press, 1987, fig. 6, 9, 10, 11

[16] John Bowring, The Kingdom and People of Siam, Vol. 1. London: John W. Parker and Son, West Strand, 1857, p.82

[17] David K. Wyatt, A Hisory of Thailand. Chiang Mai: Silkworm Books, 2003, p. 44

[18] Leo Suryadinata, Admiral Zheng He and Southeast Asia. Singapore: ISEAS, 2005. chapter 2. The First Three Rulers of Malacca, pp. 26-41; Frederick W. Mote and Denis Twitche. The Cambridge History of China, Volume 8, The Ming Dynasty, 1368-1644, Part 2. Cambridge: Cambridge University Press, 1998, pp. 301-332; G. E. Marrison, The Siamese Wars with Malacca During the Reign of Muzaffar Shah. Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society, Vol. 22, No. 1 (147) (March 1949), pp. 61-66

[19] Richard D. Cushman, The royal chronicles of Ayutthaya. Bangkok : The Siam Society, 2000, p. 128

[20] Derick Garnier, Ayutthaya: Venice in the East, pp. 31-32

[21] John Bowring, The Kingdom and People of Siam. Vol. 1. London: John W. Parker and Son, West Strand, 1857,  pp. 73-75;

[22] Le Quy Don黎貴惇, 撫邊雜錄 [Phu Bien Tap Luc], Sài Gòn: Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản:  1972, quyển 5, tờ 154 b-156a

[23] Li Tana, “Ships and Shipbuilding”, in Water Frontiers, eds., Li Tana and Nola Cooke, pp. 119-135

[24] Jirathorn Chartsiri, The emergence and development of the Thonburi Kingdom in the context of the Chinese Era, 1727-1782. PhD dissertation, Bangkok: Chulalongkorn University: 2009, pp. 105-109

[25] Cyril Skinner, Prince Damrong’s Introduction to the “Dispatches of Luang Udom Sombat”. Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, Vol. 54, No. 2 (240) (1981), pp. 75-97; Carl A. Trocki, Chinese Revenue Farms and Borders in Southeast Asia. Modern Asian Studies, Vol. 43, No. 1 (Jan., 2009), pp. 335-36

[26] Li Tana and Nola Cooke, Water Frontiers, Figure 3

[27] Mary Somers Heidhues, Bangka Tin and Mentok Pepper: Chinese Settlement on an Indonesia Island. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1992, pp. 2-9; Anthony Reid, “Chinese Trade and Southeast Asia Economic Expansion”, in Li Tana and Cooke (2004),  pp. 25-6.

[28] 大南寔錄 (Đại Nam Thực Lục – DNTL). Tokyo: Keio Institute of Cultural and Linguistic Studies, 1974. Vol. 1, juan 11, p. 157

[29] Tống Phúc Ngoạn và Dương Văn Châu, 暹羅國路程集錄 [Xiêm La Quốc Lộ Trình Tập Lục], Hong Kong: New Asia Research Insitute Historical Material Series No. 2, Chinese Universty of Hong Kong, 1966. , p.6

[30] Vũ Thế Dinh 武世營, 河僊鎮葉鎮鄚氏家譜 (Hà Tiên Trấn Hiệp Trấn Mạc Thị Gia Phả), A. 1321, Viện Hán Nôm, tờ 11a

[31]武世營, 河僊鎮葉鎮鄚氏家譜, A. 1321, Vien Han Nom, tờ 35a-38b

[32] DNTL, vol. 3, juan 38, p. 153

[33] John Bowring, The Kingdom and People of Siam, p. 22; B. J. Terwiel, Through Travellers’ Eyes: An Approach to Early Nineteenth Century Thai History. Bangkok: Duang Kamol, 1989, pp. 43, 53

[34] Udomsombat (Lūang.). Rama III and the Siamese expedition to Kedah in 1839: the Dispatches of Luang Udomsombat. Melbourne:  Center for Southeast Asian Studies, Monash University, 1993

[35] Udomsombat (Lūang.). Rama III and the Siamese expedition, pp. 8-9; Walter Vella, Siam Under Rama III, 1824-1851. Locust Valley, NY: J. J. Augustin, 1957, pp. 60, 76-77

[36] Udomsombat (Lūang.). Rama III and the Siamese expedition, p. 11

[37] The Dynastic Chronicles Bangkok Era, the first reign, trans. Thadeus and Chanin Flood. Tokyo: Center for East Asian Culture, 1978, p. 167. Kular là loại thuyền gần giống như ghe tàu được Nguyễn Ánh tổ chức đóng dọc theo duyên hải phía đông của vịnh Thái Lan.

[38] The Dynastic Chronicles Bangkok Era, pp. 174-5

1 hap: 60 kg

[39] Davisak Puaksom, Khon Plaekna Nanachat Khong Krung Sayam [Những người lạ ở Xiêm]. Bangkok: Matichon Publishing, 2003, p. 42

[40] John Bowring, The Kingdom and People of Siam, pp. 25-6

[41] B. J. Terwiel, Through Travellers’ Eyes: An Approach to Early Nineteenth Century Thai History. Bangkok: Duang Kamol, 1989, p. 188

[42] Rama II and the Siamese Expedtion, pp. 316-317

[43] John Crawfurd. Journal of an embassy from the governor-general of India to the courts of Siam and Cochin China. Repr, Kuala Lumpur: Oxford Univ. Press, 1967, p. 50; Sarasin Viraphol, Tribute and Profit, p. 173

[44] Nidhi Eoseewong, Pen and Sail, p. 85

[45] Xem Damrong Rajanubhab. The chronicle of our wars with the Burmese: hostilities between Siamese and Burmese when Ayutthaya was the capital of Siam. Bangkok: White Lotus, 2001; Sunait Chutintaranond, Cakravartin: the Ideology of Traditional Warfare in Siam and Burma, 1548-1605, Ithaca: Cornell University, Diss., 1990; và Sunait Chutintaranond and Than Tun, On both sides of the Tenasserim range: history of Siamese Burmese relations. Bangkok : Chulalongkorn Univ., 1995, pp. 1-32

[46] Thongchai Winichakul, Siam Mapped, pp. 116-119

[47] Udomsombat (Lūang.). Rama III and the Siamese expedition, p. 12

[48]  Kobkua Suwannathat-Pain, Thai-Malay relations: traditional intra-regional relations from the seventeenth to the early twentieth centuries. Singapore: Oxford University Press, 1988, p. 223

[49] Tong Phuc Ngoan, Duong Van Chau, Xiem La Quoc (Hong Kong: 1966), pp. 27, 69

Chú giải về vị trí Cổ Công: Phạm Hoàng Quân, Bản dịch Xiêm La Quốc Lộ Trình Tập Lục, Tạp chí Nghiên Cứu và Phát Triển, Số 8 (106), 2013: p. 24, note 4.

[50] Vũ Đức Liêm, “State Border vs. Civilized Frontier: Vietnam, the Khmer World and the
Boundaries of Politics (1802-1847)”, The Geobody of Vietnam Conference, Co-sponsored by the Max Planck Institute for Religious and Ethnic Diversity and the Asia Center, Harvard University. Göttingen, Germany: May 20-22, 2015

[51] DNTL, vol. 5,juan 16, p. 214

[52] DNTL, vol. 10, p. 150

[53] DNTL, vol. 11, p. 158

[54] Tong Phuc Ngoan, Duong Van Chau, Xiem La Quoc (Hong Kong: 1966), pp. 34-58

[55] Santanee Pasuk and Philip Stott, Royal Siamese Maps: War and Trade in Nineteenth-century Thailand. Bangkok : River Books, 2004, pp. 56, 107, 147

[56] Carl A. Trocki, Chinese Revelue Farms, pp. 343-344

[57] Thongchai Winichakul, Trying to Locate Southeast Asian from Its Navel: Where is Southeast Asian Studies in Thailand, in Locating Southeast Asia: geographies of knowledge and politics of space, eds., Paul H. Kratoska, Remco Raben, Henk Schulte Nordholt (Singapore: Singapore University Press, 2005), pp. 117-21; Mukdawijitra, Yukti, Ethnicity and multilingualism: the case of ethnic Tai in the Vietnamese state. PhD dissertation. Madison, WI: University of Wisconsin: 2007

[58] Thư của vua Mongkut gửi Surawongwaiyawat, đại sứ Xiêm tại Paris ngày 04.03.1866. Constance M. Wilson, State and Society in the Reign of Mongkut 1851-1868: Thailand on the Eve of Modernization (PhD dissertation, Cornell University, 1970), p. 394

[59] Bumroongsook, Sukunya, Chulachomklao Royal Military Academy: the. Modernization of Military Education in Thailand (1887-1948), Ph.D. dissertation , Northern Illinois University, 1991, pp. 26-34

[60] John Bowring, The Kingdom and People, p. 480

[61] John Bowring, The People, p. 31

[62] Manich Jumsai, History of Anglo-Thai relations. Bangkok: Chalermnit, 1970, p.1

[63] Thongchai winichakul, Siam Mapped, pp. 47-48, 119

[64]Maliwan Khongcharoen, “Bothat Lae Kitchakan Thahanrua Thai Samai Sombunranayasitthirat” [Vai trò và các hoạt động của Hải quân hoàng gia Thái dưới thời quân chủ chuyên chế],  M.A. thesis,Chulalongkorn University, 1974.

[65]King Chulalongkorn, “Phrabaromrachathibai Kaekhai Kan Pokkhrongphaendin” [Giải thích của đức vua về cải cách hành chính], in trong Faculty of Liberal Arts, Thammasat University. Prawatsat Lae Kanmuang [Lịch sử chính trị], Bangkok: Thammasat University Press, 1973, pp. 165-166.

[66] Bumroongsook, Sukunya, Chulachomklao Royal Military Academy: The modernization ofmilitary education in Thailand (1887-1948), Ph.D. Northern Illinois University, 1991. p. 77

[67]Rear Admiral Chaen Patchusanon, Prawat Kanthahanrua Thai [Lịch sử hải quân Thái], Bangkok: n.p., 1965, p. 421. Ngay từ năm 1855, bộ trưởng chiến tranh Sisuriyawong đã yêu cầu toàn quyền Hong Kong là Bowring cho con trai mình sang Hong Kong để đào tạo hải quân. Snidvongs, Neon. “The Development of Siam’s Relations withBritain and Prance in the Reign of King Mongkut,1851-1868” Unpublished Thesis presented for the Degreeof Ph.D., University of London, 1961, p. 265

[68] Patrick J. N Tuck, The French Wolf and the Siamese Lamb: The French Threat to Siamese independence, 1858-1907. Bangkok: White Lotus: 1995, pp. 9-10

[69] Chandran Jeshurun, The Contest for Siam 1889-1902: A Study in Diplomatic Rivalry, Kuala Lumpur: Penerbit Universiti Kebangsaan Malaysia, 1977; Tuck, Patrick J. N. The French Wolf and the Siamese Lamb: The French Threat to Siamese Independence, 1858-1907. White Lotus: 1995, pp. 132-33

[70] Constance M. Wilson, State and Society in the Reign of Mongkut 1851-1868: Thailand on the Eve of Modernization (PhD dissertation, Cornell University, 1970), p. 552

[71] Kobkua, Thai-Malay Relations, pp. 136-7

[72] Kobkua, Thai-Malay Relations, p. 148; Cũng xem Manich Jumsai, History of Anglo-Thai relations. Bangkok: Chalermnit, 1970, pp. 231-243

[73] Hiệp ước Anh-Xiêm 1909,  Appendix E, trong Kobkua, Thai-Malay Relations, pp. 224-6

[74] United States Department of State Bureau of Oceans and International Environmental  and Scientific Affairs, Limits in the Seas, No. 122. Straight Baseline Claim: Thailand, September 8th, 2000, map 1.

[75] Franco-Siamese boundary treaty, the Treaty of 23 March 1907, available at
http://library.lawschool.cornell.edu/cijwww/icjwww/idecisions/isummaries/ictsummary620615.htm

[76] Captain Somjade Kongrawd, Thailand and Cambodia maritime disputes,

www.globalsecurity.org/military/library/report/…/thailand-cambodia.pdf (truy cập ngày 20.11.2015)

[77] Xem Shid Phumisak. Chomna Sakdina Thai (Bộ mặt thật của chế độ phong kiến Thái). Bangkok: Chomrom Nangsue Sangtawan, 1976; San Rangsarit. Wiwatthanakan haeng sangkhomsayam [Sự tiến hóa của xã hội Xiêm]. Bangkok: Sahasiuksapha, 1979. Và Craig J. Reynolds and Hong Lysa, Marxism in Thai Historical Studies. The Journal of Asian Studies, Vol. 43, No. 1 (Nov., 1983), pp. 77-104

[78] Hans-Dieter Evers, Trade and State Formation: Siam in the Early Bangkok Period. Modern Asian Studies, Vol. 21, No. 4 (1987), pp. 751-771; Hong Lysa, Thailand in the nineteenth century: evolution of the economy and society. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1984; Jennifer Wayne Cushman, Fields from the Sea: Chinese Junk Trade With Siam During the Late Eighteenth and Early Nineteenth Centuries. Ithaca: Cornell University Southeast Asia Program Publications, 1993; Sarasin Viraphol, Tribute and Profit: Sino-Siamese Trade, 1652-1853. MA: Harvard University Press, 1977; Dhiravat na Pombejra, Siamese court life in the seventeenth century as depicted in european sources. Bangkok : Department of History Faculty of Arts Chulalongkorn University, 2001; Dhiravat na Pombejra, Court, company, and compong: essays on the VOC presence in Ayutthaya. Phra Nakhon Si Ayutthaya : Ayutthaya Historical Study Centre, 1992; Nidhi Eoseewong, Pen and Sail: literature and history in early Bangkok ; including the history of Bangkok in the chronicles of Ayutthaya.  Chiang Mai, Thailand : Silkworm Books, 2005.

[79] John Bowring, The Kingdom and People of Siam. Vol. 1. London: John W. Parker and Son, West Strand, 1857, p. 241

[80] Phutthaloetla Naphalai, Phrabatsomdetphra (Vua Rama II), Bot lakhon nok ruan 6 rueang (6 màn mở đầu), Bangkok: Sinlapbannankan: 1958, pp. 429-30

[81] Phutthaloetla Naphalai, Phrabatsomdetphra (Vua Rama II), Inao. Bangkok: Khurusapha, 1995, p. 5

[82] Shigeharu Tanabe: “Historical Geography of the Canal System in the Chao Phraya River Delta”. Journal of the Siam Society, Bd. 65 (1977); Nidhi Eoseewong, Pen and Sail, pp. 67-76

[83] Xem Dhiravat na Pombejra, “Ayutthaya at the End of the Seventeenth Century: Was There a Shift to Isolation?. In Anthony Reid, ed., Southeast Asia in the Early Modern Era, Ithaca: Cornell University Press: 1993, pp. 251-252; Cesare Polenghi, Samurai of Ayutthaya: Yamada Nagamasa, Japanese warrior and merchant in early seventeenth-century Siam. Bangkok: White Lotus Press, 2009; Dirk van der Cruysse. Siam and the West, 1500-1700. Chiang Mai: Silkworm Books, 2002; Stefan Halikowski Smith, Creolization and Diaspora in the Portuguese Indies The Social World of Ayutthaya, 1640–1720. Leiden and Boston: Brill: 2011

[84] Hans-Dieter Evers. Trade and State formation, p. 758

[85] Nghiên cứu về Việt Nam theo chủ đề này có thể xem: Charles Wheeler , Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuân-Quang, Seventeenth–Eighteenth Centuries, Journal of Southeast Asian Studies, Volume 37, Issue 01 (February 2006), pp. 123 – 153; John K. Whitmore , The Rise of the Coast: Trade, State and Culture in Early Ðaviet, Journal of Southeast Asian Studies, Volume 37, Issue 01 (February 2006), pp 103 – 122;  Li Tana, A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnamese Coast, Journal of Southeast Asian Studies, Volume 37, Issue 01 (February 2006), pp. 83 – 102; Nguyễn Văn Kim (cb), Người Việt với Biển. (Hà Nội: Nxb Thế Giới, 2011).

[86] Leonard Andaya, Reorienting the historian’s gaze toward the sea,  paper presentations at the Consortium for Southeast Asia Studies in Asia, Kyoto University: 12-13.12.2015

[87] Về Cakravartin, xem Sunait Chutintaranond. Cakravartin: the Ideology of Traditional Warfare in Siam and Burma, 1548-1605. PhD dissertation, Ithaca: CornellUniversity, 1990. Thongchai nói về sự xung đột này trong Siam Mapped, chapter 3. Boundary, pp. 62-80

Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 1 (127) 2016

VIỆT NAM Ở GIAO ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU: TRI THỨC ĐÔNG NAM Á CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ CÁC THỨC TIẾP CẬN MỚI

Vietnam at the Crossroad of Area and Global Studies: Vietnamese Knowledge on Southeast Asia and New Approaches

Vũ Đức Liêm

Abstract

Area studies is generally believed in a crisis because of emerging Global and International Studies and driving forces of globalization. Southeast Asian studies is expecting to face the same struggle in reconstructing its structure, methodological approach and geographical shift. For the survival of area studies, enormous efforts have been paid to integrate various bodies of knowledge generated by academic disciplines, interdiscipline, multidiscipline, transnational and global studies. Across the region, indigenous Southeast Asianists now destine a new role to play that aiming to replace western long domination of the field. This paper aims to shed light upon the academic interaction between areas and global studies and the new paradigm emerges in the global age. It designates new form of area studies and the need of Vietnamese academic change for better regional integration that surpasses historiographical heritage of nationalism and Cold War ideology.

Key words: Southeast Asian Studies, Global Studies, Vietnamese history

Tóm tắt

Nghiên cứu khu vực học được coi là đang ở “giai đoạn khủng hoảng” bởi sự nổi lên của nghiên cứu toàn cầu và ảnh hưởng của các mối quan hệ liên khu vực toàn cầu hóa. Nghiên cứu Đông Nam Á đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ cả về cấu trúc, lí thuyết tiếp cận và chuyển dịch của các trung tâm học thuật trong nỗ lực kết nối các dòng chảy tri thức tạo ra bởi tiếp cận chuyên ngành, liên ngành, đa ngành và nghiên cứu toàn cầu. Các học giả Đông Nam Á đang đóng những vai trò mới trong tiến trình này nhằm thay thế vai trò thống trị của các trung tâm học thuật Âu châu và Bắc Mỹ. Bài Viết này đề cập đến sự tương tác giữa nghiên cứu khu vực và nghiên cứu toàn cầu trong việc định hình các cách thức tiếp cận khu vực học mới và định vị vị trí của Việt Nam trong sự chuyển dịch này.

Từ khóa: Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu toàn cầu, Lịch sử Việt Nam

 DẪN NHẬP

 Sự chuyển dịch của địa chính trị toàn cầu đã ảnh hưởng sâu sắc đến triển vọng của nghiên cứu khu vực học và lần đầu tiên đặt ra thách thức về sự tồn tại của nó với tư cách là một lĩnh vực (subject) học thuật. Giống như tất cả các trung tâm nghiên cứu khu vực khác, nghiên cứu Đông Nam Á là hệ quả của chiến tranh lạnh và chiến lược toàn cầu như một sản phẩm của các mối quan tâm địa chính trị và quân sự. Bức tường Berlin sụp đổ và cuộc chiến ý thức hệ qua đi giúp định hình các mối quan tâm của các cường quốc, và cũng vì thế, khu vực học trong ba thập kỷ qua có sự biến đổi mạnh mẽ. Bài viết này sẽ hướng đến những thách thức mà nghiên cứu khu vực ở Đông Nam Á đang phải đối mặt cũng như đề xuất cách thức tiếp cận mới cho Việt Nam để đón nhận sự thay đổi giữa nghiên cứu khu vực (Area Studies), nghiên cứu toàn cầu (Global Studies) và nghiên cứu Quốc tế (Internaitonal Studies). Việt Nam đang ở đâu giữa các luồng tri thức này và thách thức nào cho nền học thuật Việt Nam khi tiếp cận với sự chuyển dịch mới của nghiên cứu Đông Nam Á và nghiên cứu toàn cầu hóa.

Cuộc tranh luận trong những thập kỷ vừa qua ở Bắc Mỹ và Châu Âu hướng đến sự tồn tại của nghiên cứu Đông Nam Á với tư cách là một ngành khoa học. Khi các học giả bắt đầu nói đến sự “kết thúc của lịch sử” (Francis Fukuyama, 1991) và  thế giới trở nên “phẳng” (Thomas friedman, 2007, 2012) dưới sức nặng của làn sóng toàn cầu hóa, người ta bắt đầu hoài nghi về tính cách riêng biệt và đơn nhất của khu vực học vì giờ đây, các hiện tượng xã hội dần mang các thuộc tính toàn cầu, hơn là khu biệt.[1] Và vì thế, không có lí do để thành lập và duy trì các trung tâm nghiên cứu khu vực riêng biệt, thay vào đó là nghiên cứu toàn cầu hóa và nghiên cứu quốc tế. Mặt khác, với tư cách là một ngành khoa học, nghiên cứu Đông Nam Á được cho là đã “thất bại” và đang gặp “khủng hoảng” vì không có khả năng khái quát và hệ thống hóa tri thức, cũng như kết nối tri thức của các ngành khoa học riêng lẻ với nhau và giữa các trường phái học thuật “phương Tây” và “ngoài phương Tây” (Non-West).[2]

Nhiều trường Đại học Âu Mỹ đã đi tiên phong trong xu thế này với sự ra đời của các trung tâm nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu toàn cầu. ở Đại học Leiden, trung tâm nghiên cứu ngành nhân văn của Hà Lan, chương trình Leidenglobal được thành lập bằng cách tập hợp các viện nghiên cứu vùng, bảo tàng và trung tâm lưu trữ riêng biệt.[3]  Các chương trình nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu toàn cầu đã được triển khai tại các trường đại học ở Bắc Mỹ, như Indiana,  Carnegie Mellon University, University of Minnesota Harvard Kenendy School (International and Global Affairs Concentration), Center for Goervement and International Studies…  Nghiên cứu quốc tế và toàn cầu đã trở thành hiện tượng mới của khoa học xã hội trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Tại Nhật Bản, chương trình đào tạo sau đại học về Global Studies (GPGS)  được thành lập năm 2006 ở Đại học Sophia hướng đến mục tiêu phát triển các nghiên cứu khu vực học theo hướng toàn cầu hóa.[4]

Phải chăng nghiên cứu Đông Nam Á đã đến lúc rút ra khỏi các chương trình học thuật và thu mình trong không gian lớn hơn của nghiên cứu Quốc Tế và Toàn Cầu?

Cũng trong các thập niên trở lại đây, hai xu thế chính trị và học thuật mới xuất hiện đã làm thay đổi cách thức tiếp cận mới đối với khu vực học, dịch chuyển trung tâm và cấu trúc của ngành này trên phạm vi toàn cầu. Lịch sử vẫn chưa “kết thúc”, hoặc ít nhất là không “kết thúc” theo cách mà phương Tây mong muốn. Chiến tranh Vùng Vịnh, bóng ma của xung đột giữa Phương Tây và thế giới Hồi Giáo, gần nhất là sự kiện 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố  làm sống dậy các chỉ trích học thuật đối với cách nhìn của thế giới phương Tây đối với “Phương Đông”.[5] Lí thuyết về “sự va chạm của các nền văn minh” (Clash of Civilizations, Samuel Hantington, 199) có dịp quay trở lại, hướng đến sự khác biệt văn hóa, tôn giáo giữa các khu vực. Nó cho thấy thế giới không chỉ ngày càng phát triển theo các xu thế “đồng nhất”, mà còn xuất hiện sự chia rẽ và mâu thuẫn từ chính quá trình “nhất thể hóa” đó. Điều này không chỉ giúp “phục hưng” lại nghiên cứu về thế giới Hồi Giáo hay một vài khu vực riêng biệt liên quan đến cuộc chiến chống khủng bố, mà có ý nghĩa giúp định hình lại cách thức tiếp cận khu vực học  hậu chiến tranh lạnh.

Giống như các nghiên cứu khu vực học khác, Đông Nam Á đã trở lại, nhưng trong một khung cảnh hoàn toàn mới. Ở các môi trường học thuật Bắc Mỹ và Châu Âu, cái nôi của nghiên cứu Đông Nam Á, quy mô của ngành này đang thu hẹp và trở thành một bộ phận của nghiên cứu liên vùng và toàn cầu hóa. Nhưng một xu thế mạnh mẽ hơn đang diễn ra ngay chính ở Đông Nam Á với sự thành lập của nhiều trung tâm nghiên cứu vùng và tham vọng vươn ra quốc tế, để thay thế vai trò dẫn dắt của học thuật phương Tây đã từng thống trị ngành này trong thế kỷ XX. Quá trình tái cấu trúc và chuyển dịch trung tâm của ngành nghiên cứu Đông Nam Á về khu vực vừa là cơ hội và thách thức cho giới học thuật Việt Nam. Đã đến lúc nhiều quan niệm truyền thống của chúng ta về ngành nghiên cứu Đông Nam Á cần phải được xem xét lại. Người Việt phải chăng thiếu tri thức và hiểu biết về Đông Nam Á, đặc biệt là các nước láng giềng? Những cách thức chúng ta đang tiếp cận Đông Nam Á học hiện nay? Và Việt Nam đang ở đâu trong sự phát triển của ngành nghiên cứu Đông Nam Á trong khu vực?

I. Khu Vực Học và Toàn Cầu Hóa

Sự ra đời của các ngành khoa học ở thế kỷ XIX là hệ quả của phát triển khoa học kỹ thuật, cách mạng công nghiệp và chủ nghĩa quốc gia dân tộc, cũng vì thế, cách thức phân loại các ngành khoa học, hệ thống giáo dục và cách thức tạo ra tri thức đang được phổ biến một cách rộng rãi ngày hôm nay đều là sản phẩm từ phương Tây.[6] Sự mở rộng của chủ nghĩa thực dân phương Tây ra các khu vực đặt ra những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu các khu vực khác bên ngoài Châu Âu: Đông Phương Học, Ai Cập học, Trung Quốc học, Ấn Độ học..  Vì thế, nền tảng tri thức khoa học về Đông Nam Á mà chúng ta kế thừa qua hàng thế kỷ thực dân là sản phẩm từ cách tư duy phương Tây và lấy châu Âu làm trung tâm (Eurocentricism), như cách nói của Van Leur, đó là Đông Nam Á được nhìn “từ sàn các con tàu, thành lũy của các công sự, và từ sảnh trưng bày của các thương điếm”.[7]

Sự phát triển của nghiên cứu Đông Nam Á trong thế kỷ XX cho thấy sự dịch chuyển của các luồng tri thức phản ánh về khu vực thông qua chuyển dịch cách thức tiếp cận, phương pháp nghiên cứu qua nhiều thế hệ các nhà Đông Nam Á học đến từ trong và ngoài khu vực. Bước phát triển quan trọng của nghiên cứu khu vực học ở thế kỷ XX là chiến Tranh Lạnh và chiến lược địa chính trị toàn cầu của các cường quốc. Ban đầu, chính địa chính trị chứ không phải nhu cầu nghiên cứu học thuật giúp cho việc phân chia và định hình các vùng nghiên cứu mà chúng ta có ngày hôm nay. Chính vì thế, bản thân nghiên cứu Đông Nam Á ngay từ đầu được coi là sản phẩm của các nỗ lực của Mỹ nhằm phục vụ cho nhu cầu duy trì và phát huy ảnh hưởng của họ. Điều này dẫn đến thực tế nhược điểm đã được chỉ ra của ngành, đó là thiếu lý thuyết nghiên cứu và các phương pháp luận có tính hệ thống.[8]

Vào cuối những năm 1950s, tại Đại học Cornell đã hình thành nên thế hệ đầu tiên của các nhà nghiên cứu Đông Nam Á, và đến giai đoạn 1960s và 1970s, với sự leo thang chiến tranh Việt Nam tạo ra chuyển biến thúc đẩy nghiên cứu về Đông Nam Á ở Bắc Mỹ và Châu Âu.  Đây được coi là ‘Kỷ nguyên vàng của nghiên cứu Đông Nam Á” tại Mỹ. Việc nghiên cứu, giảng dạy Đông Nam Á được sự trợ giúp của chính quyền liên bang và luật giáo dục. Hàng loạt các trung tâm nghiên cứu khu vực quy mô đã được thành lập ở California, Northern Illinois, Yale, Michigan.

Từ những năm 1980s, nghiên cứu Đông Nam Á có dấu hiệu khủng hoảng và đi xuống, đó là khi các chính phủ phương Tây đã không còn thấy những lợi ích “trực tiếp” mà ngành này đem lại sau khi ảnh hưởng của họ tại đây suy giảm đáng kể sau chiến tranh Việt Nam. Các học giả như B. Anderson, G. Kahin đã mô tả “sự khủng hoảng” của nghiên cứu Đông Nam Á. Cuộc tranh luận này kéo dài đến những năm 1990s, khi các học giả đặt lại cơ sở của nghiên cứu khu vực Đông Nam Á với tư cách là một khoa học. Và rằng nghiên cứu Đông Nam Á đã trở nên lạc hậu so với thực tiễn năng động của khu vực.[9] Những phên phán này đã đưa trở lại cuộc tranh luận về tính nhị nguyên của tri thức Đông Nam Á: góc nhìn của “người bên ngoài” và “người bản địa”. Phần lớn các nhà Đông Nam Á học ở những thế hệ đầu tiên đến từ Âu Mỹ, nhiều người là viên chức thuộc địa và quân đội, vì thế, các chỉ trích cho rằng đã áp đặt các mô hình và khái niệm phương Tây vào Đông Nam Á một cách máy móc để tạo ra các tri thức đơn thuần diễn dịch thế giới quan Châu Âu.

Dĩ nhiên là không phải chờ đến khi người Phương Tây đến thì khu vực này mới được nghiên cứu và các tri thức về các khu vực này mới trở thành “khoa học”. Nhận thức khu vực đã được các cộng đồng bản địa tích lũy trong suốt chiều dài lịch sử của họ, có điều là nó không được “diễn đạt” theo cách cách thức của Châu Âu.

Chính vì thế xuất hiện lời kêu gọi của một số nhà nghiên cứu chủ trường thay thế các khái niệm phương Tây bằng cách sử dụng tri thức bản địa mà theo mô tả của họ là sử dụng khái niệm Đông Nam Á để hiểu và mô tả Đông Nam Á. Bằng việc lấy Châu Á làm trung tâm (Asiacentric), thay thế cho việc sử dụng lí thuyết phương Tây, hàng loạt các khái niệm mới đã xuất hiện trong giới nghiên cứu khu vực để mô tả trạng thái chính trị, quan hệ vương quyền, nhà nước, xã hội thuộc địa, quan niệm về quyền lực ở Đông Nam Á: “mandala”, “theatre state”, “galatic polity”, “geobody”, “moral economy”, “weapon of the weak”, “immagned communities”. Các khái niệm này, sau đó đã trở nên phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và được áp dụng trong các khu vực học khác.[10]

Toàn cầu hóa đưa đến hai thách thức lớn cho nghiên cứu Đông Nam Á. Thứ nhất là dòng chảy thương mại, kỹ thuật, nhân công, dân cư, … xuyên qua các đường ranh giới địa lý khu vực. Vì thế, nghiên cứu khu vực học trở nên quá chặt hẹp khi tự trói mình trong các đường biên địa lý và lãnh thổ quốc gia. Thứ hai là thách thức về mặt lí thuyết nghiên cứu.  Điểm yếu lí thuyết của ngành một lần nữa lại được lật lại khi nó bị phê phán và chỉ được coi là lĩnh vực nghiên cứu “trung gian” giữa nghiên cứu chuyên ngành và nghiên cứu toàn cầu hóa. Đồng thời, nó cũng không tạo ra được những kết nối giữa tri thức bản địa và tri thức toàn cầu, giữa các quan điểm học thuật phương Tây và tri thức bản địa.

Trong khi đó, nghiên cứu Toàn cầu (Global Studies) là một ngành nghiên cứu mới và đang phát triển nhanh chóng. Đối tượng ngành này hướng tới  là những hiện tượng cũ: sự kết nối đa dạng của các nền văn hóa, văn minh và tộc người trong một diễn trình lâu dài thông qua các đế chế, các cuộc chinh phục, các dòng chảy thương mại và các cuộc thám hiểm cho đến tiến trình toàn cầu hóa thời hiện đại.[11] Khi đó, lịch sử của mỗi tộc người và quốc gia được mô tả như là một mắt xích của hệ thống thế giới đa trung tâm. Các nghiên cứu mới vì thế hướng vào các “dòng chảy” di cư, chuyển giao kỹ thuật, thương mại, chiến tranh, viễn chinh, mở rộng lãnh thổ, văn hóa, văn minh… hơn là các không gian địa lí cố định, và luôn có xu thế tạo ra các không gian mới vượt qua các phân vùng địa lí.

Xung đột giữa lí thuyết nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành, đa ngành, khu vực học và nghiên cứu toàn cầu đang đòi hỏi những cách thức tiếp cận năng động, đòi hỏi sự “phá hủy” các đường gianh giới địa lí và các không gian địa chính trị đang “giam hãm” sự mở rộng của tri thức học thuật đến các đường biên, đường viền, ngoại vi của các không gian học thuật mới, cũng như ngăn cản việc xác lập các không gian nghiên cứu mới là đối tượng của khoa học. Theo Van Schendel, cách phân chia khu vực học hiện tại đang làm cho nhiều khu vực và nhóm người trở nên “vô hình”, không được nhận biết là đối tượng nghiên cứu. Vùng đất ông lấy làm ví dụ, Zomia bao gồm các nhóm sắc tộc nằm trên khu vực núi kéo dài từ Trường Sơn của Việt Nam, qua Vân Nam, Tây Tạng, Myanmar, Bắc Ấn Độ và kéo dài đến Afganistan. Lịch sử của vùng đất này dường như bị “lãng quên” bởi các phân vùng khu vực học hiện tại khi nó nằm giữa Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á và Tây Á.[12] Trong khi những người khác kêu gọi kết hợp Trung Hoa và Đông Nam Á thành Sino-Pacifica, một tiểu vùng trong nghiên cứu lịch sử toàn cầu. Lập luận này cho rằng có nhiều đặc trưng tộc người, văn hóa, văn minh và các làn sóng lịch sử đã kết nối Trung Quốc với Đông Nam Á.[13]

Các ví dụ này cho thấy ảnh hưởng của tư duy toàn cầu hóa và nhu cầu tái cấu trúc lại không gian của khu vực học một cách đa dạng trong đó các nhà nghiên cứu có thể chuyển dịch các giới hạn địa lý truyền thống cho phù hợp với lĩnh vực khảo sát của mình và tạo ra các dòng tri thức mới dựa trên các phân vùng địa lí chưa được định hình.

II. Nghiên cứu Đông Nam Á: ở Đông Nam Á và bởi Người Đông Nam Á

Trong khi nghiên cứu Đông Nam Á đang có khuynh hướng thu hẹp ở  phương Tây, sự phát triển của ngành này đang tạo ra tính năng động cho nghiên cứu học thuật ở Đông Nam Á nói riêng và Châu Á Thái Bình Dương nói chung. Ở cấp độ khu vực, các trường Đại học của Singapore, Malaysia và Thailand hiện đang dẫn đầu xu hướng này bằng cách phát triển các trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á tầm cỡ thế giới, hướng đến mục tiêu dần thay thế các trung tâm truyền thống ở Châu Âu và Bắc Mỹ, nơi mà các mối quan tâm của họ có vẻ như đang dịch chuyển sang Mỹ Latinh, thế giới Hồi giáo, Đông Âu và Nga, hoặc sự nổi lên của Trung Quốc. National University of Singapore (NUS), Institutite of Southeast Asian Studies (ISEAS, Singapore), University of Malaya (UM, Malaysia), Thammasat University (Thailand), Chulalongkorn University (Thailand), Chiang Mai University (Thailand), Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Việt Nam) hiện đang đóng vai trò là các trung tâm nghiên cứu và đào tạo ngành Đông Nam Á học với các chương trình quốc tế và quy mô trao đổi học thuật rộng lớn. Institute of Southeast Asian Studies (Singapore) thành lập năm 1971 và Southeast Asian Studies Regional Exchange Program (SEASREP) năm 1994 đang nỗ lực tiến hành các trao đổi học giả ở cấp độ khu vực và cầu nối với các học giả bên ngoài nhằm đa dạng hóa và quốc tế hóa môi trường nghiên cứu Đông Nam Á.Vì thế, tạo ra nhiều cơ hội để mở rộng các quỹ và chương trình nghiên cứu, đặc biệt là thúc đẩy sự tham gia của các học giả bản địa.[14] Tại hai trường đại học lớn nhất của Thailand là Chulalongkorn và Thammasat đều có chương trình đào tạo Đông Nam Á học, hàng năm tổ chức các chuyến thực tế sang các nước khu vực và tổ chức chương trình học ngôn ngữ Đông Nam Á.

Quá trình này tạo ra sự chuyển dịch của mạng lưới nghiên cứu Đông Nam Á thế giới, và trung tâm của nó đang dần chuyển dịch sang Châu Á Thái Bình Dương và Đông Nam Á. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa khu vực (regionalism), phát triển của ASEAN thúc đẩy nhu cầu nghiên cứu Đông Nam Á ở một cấp độ mới, phục vụ cho tầm nhìn “nhất thể hóa”. Vì thế, nghiên cứu Đông Nam Á trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với mỗi thành viên trong khu vực. Chính khu vực hóa và toàn cầu hóa là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nghiên cứu Đông Nam Á và thúc đẩy sự phát triển của nó trong môi trường học thuật tại khu vực.

Sự chuyển dịch này đang và sẽ tạo ra thế hệ các học giả nghiên cứu Đông Nam Á xuất thân từ chính khu vực và sử dụng các cách thức tiếp cận mới phi-Châu Âu (Non-European) để nhận thức về khu vực của mình không chỉ với tư cách là một bộ phận của các trào lưu toàn cầu hóa, mà còn thách thức lại các khối tri thức được định hình qua hàng thế kỷ bởi các trường phái học thuật lấy châu Âu làm trung tâm. Sự hình thành của thế hệ các nhà nghiên cứu bản địa, với trình độ đào tạo đa dạng, từ Âu Mỹ hoặc trong khu vực, tham gia định hình tương lai của ngành. Tính đa dạng hóa của các nhà Đông Nam Á học còn được phản ánh qua vai trò của những nhóm có liên hệ với Đông Nam Á, từ chỗ là những viên chức thuộc địa cho đến thế hệ con cháu của những người Đông Nam Á di cư do những biến động chính trị những năm 1970s-1980s. Trong trường hợp các học giả nghiên cứu Việt Nam, đó là thế hệ Việt kiều, những người được kỳ vọng là “tương lai của ngành Việt Nam học” ở Bắc Mỹ, Úc hay Âu châu.[15]

Rõ ràng là trong khung cảnh khu vực hóa Đông Nam Á, triển vọng của ngành đã được gắn những mục tiêu mới phục vụ trực tiếp cho nhu cầu thúc đẩy hợp tác, giao lưu và tăng cường hiểu biết trong khu vực, hơn là phục vụ cho mục tiêu của những người “bên ngoài” để hiểu khu vực”. Các chương trình đào tạo, nghiên cứu được thực hiện bởi các học giả Đông Nam Á cũng trở nên phong phú mà một trong những mục tiêu quan trọng là giúp vượt qua những di sản của quá khứ và hận thù dân tộc, xung đột văn hóa và tranh chấp lãnh thổ để tiến tới kết nối các hệ thống tri thức và hiểu biết chung có tính khu vực, vượt qua tư duy dân tộc chủ nghĩa.[16]

Việc xác lập của các trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á tới khu vực cũng giải quyết cuộc tranh luận lâu dài về xung đột góc nhìn phản ánh qua tri thức học thuật, giữa “Đông” và “Tây’, giữa “kẻ bên ngoài” và “người bên trong”. Bản thân các nhà nghiên cứu phương Tây cũng đã thừa nhận rằng, tương lai của nghiên cứu Đông Nam Á nằm ở chính Đông Nam Á và ở trong tay của các học giả Đông Nam Á.[17] Thế hệ các học giả mới là những người được khuyến khích không đơn thuần dựa vào lí thuyết phương Tây hay các cách thức tiếp cận đối với toàn cầu hóa mà còn tự do và sáng tạo phát triển nên các lí thuyết nghiên cứu có tính riêng biệt và đặc thù cho Đông Nam Á bằng cách kết hợp với các lí thuyết hiện có hay phát triển độc lập. Một số học giả đã gọi tên xu hướng lí thuyết mới này là “Lí thuyết toàn cầu phương Nam” (Theory of the Global South).[18]

III. Việt Nam ở Giao Điểm của Nghiên Cứu Khu Vực và Nghiên Cứu Toàn Cầu

Bản thân vị trí địa lý của Việt Nam đã phản ánh giao điểm này. Tuy nhiên, sự nhận thức về lịch sử của người Việt bị hạn chế trong hai khuynh hướng quan trọng. Thứ nhất là lấy lịch sử của người Việt làm trung tâm. Lịch sử Việt Nam thường được nhìn nhận là lịch sử của nhóm tộc người đa số, lấy các biên niên sử triều đại và lăng kính của hoàng cung hay kinh thành làm chuẩn mực. Vì thế, đó là lịch sử được viết từ góc nhìn của Thăng Long, Huế hay Sài Gòn. Dĩ nhiên, quá khứ hàng nghìn năm của các nhóm cư dân trên lãnh thổ Việt Nam là sống động và đa dạng hơn thế.

Góc nhìn thứ hai đối với lịch sử Việt Nam đó là lịch sử chống ngoại xâm, và coi đó là đặc trưng xuyên suốt và chủ đạo của cách thức người Việt tương tác với thế giới bên ngoài. Chống ngoại xâm định hình nên truyền thống, và bản sắc dân tộc. Thực tiễn cho thấy chống xâm lăng là một diễn trình quan trọng của lịch sử Việt Nam. Nhưng cũng cần thừa nhận công bằng rằng bên cạnh tiến hành chiến tranh, người Việt còn tương tác với thế giới bên ngoài, thậm chí là với các đế quốc phương bắc bằng nhiều cách thức khác nhau. Thái độ của người Việt đối với các nhân tố bên ngoài không phải bao giờ cũng “chống”. Dĩ nhiên, chủ đề này chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nghiên cứu sử học trong thời kỳ chiến tranh. Nhưng nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng súng cuối cùng chấm dứt, và lịch sử cần được nhìn một cách đa dạng như nó vốn có.

Nhận thức được hai xu hướng viết sử này của nền học thuật Việt Nam hiện tại giúp chúng ta có thể tiếp cận các diễn trình lịch sử khác một cách thích hợp và gắn kết nghiên cứu Việt Nam trong dòng chảy của nghiên cứu khu vực và toàn cầu hóa. Thuật viết sử mới, bao gồm có xu thế viết lịch sử toàn cầu (Global History) và lịch sử xuyên quốc gia (Transnational History) thách thức các cách mô tả cũ của giới sử gia bằng cách yêu cầu các diễn dịch mới trong đó đặt các dân tộc và quốc gia trong sự tương tác dọc theo và vượt qua các đường gianh giới địa lý và văn hóa truyền thống, và đặt chúng trong thế đối sánh với các mô hình lịch sử ở những khu vực khác.[19]

Việt Nam nằm ở giao điểm của các làn sóng di cư, kỹ thuật, văn hóa và văn minh khu vực và toàn cầu và hoàn toàn có khả năng kết nối trong một khung cảnh rộng hơn của các mô tả lịch sử khu vực và quốc tế. Từ cuộc di cư và tương tác của các nhóm người Nam Á, Nam Đảo kéo dài liên tục từ 7000 năm trước cho đến sự lan truyền của nghề nông, chế tác đồ đồng, mở rộng của các đường biên “Hán hóa”, làn sóng Mông Cổ, giao lưu thương mại biển, quá trình chuyển giao thuốc súng và kỹ thuật quân sự tiền hiện đại, cho đến “kỷ nguyên thương mại”, chủ nghĩa thực dân phương Tây, chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh lạnh… [20] Bằng cách đặt lịch sử Việt Nam trong mô hình tương tác với khu vực và toàn cầu, sẽ góp phần đa dạng hóa tri thức lịch sử, không chỉ là sản phẩm của quá trình tự phản ánh và lấy người Việt làm trung tâm, mà còn là cách thức người Việt gia nhập và phản ứng với các chuyển biến có tính chất khu vực và toàn cầu. Nghiên cứu gần đây của Victor Lieberman là một nỗ lực như thế khi cố gắng định vị lịch sử Việt Nam ở Đông Nam Á lục địa, trong khung cảnh lịch sử đại lục địa Á-Âu (Eurasia) từ năm 800 đến năm 1830.[21] Nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh đến sự can dự thương mại của Việt Nam trong hệ thống thương mại toàn cầu thời sơ kỳ hiện đại.[22] Trong khi ở một góc nhìn khác, coi Việt Nam như một giao điểm của lịch sử địa phương, dân tộc và lịch sử toàn cầu, Vincent Houben gợi ý về bốn giao điểm của lịch sử Việt Nam với lịch sử Đông Nam Á: cuộc tương tác với văn minh Trung Hoa, tương tác biển với phương Tây thời kỳ tiền hiện đại, sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở thế kỷ XX, và công cuộc đổi mới, mở cửa từ những năm 1990s.[23]

Đa dạng hóa và “giải trung tâm hóa” (Decentralizing) góc tiếp cận Việt Nam trong bối cảnh tương tác của các nhóm cư dân phía đông của Đông Nam Á lục địa đem lại nhiều nhận thức mới về cấu trúc và diễn trình tương tác giữa các nhóm miền núi, đồng bằng, sắc tộc, với hành lang thương mại dọc biển Đông và giao lưu Bắc-Nam từ Trung Hoa xuống Đông Nam Á hải đảo. Vì thế, Việt Nam không chỉ là một “giao điểm” mà còn là một môi trường rộng lớn và phức tạp cho các tương tác này. Trong đó, người Việt có thể đóng vai trò chủ đạo ở nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng các nhóm cư dân khác: Campa, Khmer, Hoa kiều, Thái… cũng nắm giữ những vị trí năng động trong mô hình lịch sử vùng. Và vì thế, lịch sử Việt Nam có thể được viết từ “núi”, từ “biển”, từ trung tâm, từ ngoại vi, từ góc độ lịch sử địa phương, lịch sử tự trị, cho đến lịch sử dân tộc, lịch sử vùng và lịch sử toàn cầu.[24]

IV. Tri Thức “Đông Nam Á” của Người Việt và Thay Đổi Cách Thức Tiếp Cận

Ngày 07.01.2013, khi Cambodia trình làng chiếc xe điện tự chế tạo, Angkor EV 2013, giới công nghiệp xe hơi Việt Nam đã bị một phen lúng túng. Trong khi đó, chính phủ Laos vẫn đang tiếp tục triển khai thi công đập Xayaburi bất chấp các phản đối quốc tế, trong đó có yêu cầu từ Việt Nam. Việc Cambodia từ chối đưa vấn đề Biển Đông vào thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 2012, và gần đây nhất là tình trạng bài Việt kiều ở Phnom Penh hay quá trình “dân chủ hóa” ở Myanmar … Tình hình khu vực đã có những chuyển biến quan trọng mà các quan hệ “đồng minh” ý thức hệ thời kỳ chiến tranh lạnh đã thay đổi nhanh chóng. Lợi ích quốc gia trở thành vấn đề cốt lõi và sự can dự của các cường quốc mới nổi bên ngoài yêu cầu Việt Nam hiểu rõ hơn về các thách thức địa chính trị mới đến từ các nước láng giềng.

Rõ ràng là tri thức và cách thức tiếp cận của chúng ta với các nước  lân bang đang đi sau thực tiễn năng động và linh hoạt của tình hình khu vực. Đã đến lúc cần có những thay đổi trong cách thức tiếp cận, nghiên cứu, nhìn nhận Đông Nam Á với cặp mắt cập nhật và thực tế hơn, so với cách thức mà chúng ta vẫn nhìn khu vực được duy trì từ mấy thập kỷ qua.

Chúng ta có thiếu tri thức về Đông Nam Á? Một niềm tin phổ biến trong giới học thuật, không chỉ ở Việt Nam mà còn hầu hết các nước Đông Nam Á, đó là chúng ta thiếu hiểu biết về nhau. Lập luận này có thể không hoàn toàn chính xác khi chúng ta nhìn lại hệ thống dữ liệu phong phú được người Việt phản ánh qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các tri thức này đã không được ghi nhận vì nó “không phù hợp” với hệ quy chiếu và chuẩn mực của khu vực học phương Tây. Câu ngạn ngữ của người Thailand nói rằng, “”Klai Klua kin dang”: “gần muối tìm vôi” cũng như “Bụt chùa nhà không thiêng” trong tiếng Việt đã được viện dẫn để mô tả sự thờ ơ của người Thái với các dân tộc xung quanh và hướng về phương Tây.[25] Niềm tin truyền thống này cho rằng, vì Đông Nam Á lệ thuộc vào các nước lớn bên ngoài, nên hiểu biết của chúng ta về láng giềng là thua kém. Gần đây, sử gia Thongchai Winihakul đã lập luận rằng, điều đó là không đúng trong trường hợp Thailand. [26]

Người Việt không thiếu tri thức về các nước Đông Nam Á láng giềng. Tuy nhiên, cách thức chúng ta sử dụng tri thức đó và thái độ của chúng ta với các dân tộc trong khu vực đang ảnh hưởng đến sự phát triển của nghiên cứu Đông Nam Á học. Với lịch sử tương tác lâu dài và hệ thống sử liệu phong phú, tri thức và hiểu biết của người Việt với các dân tộc láng giềng là vào loại chi tiết nhất nếu so với các hệ thống biên soạn và viết sử thời tiền hiện đại của tất cả các nước Đông Nam Á khác. Tuy nhiên, chúng ta bị giới hạn bởi hệ quy chiếu “văn minh” Trung Hoa khi coi các dân tộc không thực hành Nho giáo là man di. Đây là di sản của lịch sử và hệ quả của nó vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cách nhìn nhận của chúng ta hiện tại. Trong một thế giới ngày càng lệ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, quan hệ giữa Việt Nam với Laos, Cambodia, Myanmar, Thailand cũng quan trọng như đối với bất cứ cường quốc bên ngoài nào.

Tri thức của  người Việt về Đông Nam Á cũng dựa trên việc lấy người Việt là trung tâm, mô tả Đại Nam như một “đế chế” và hướng vào ghi chép hay nghiên cứu những vấn đề liên quan đến Việt Nam, hay quan hệ giữa Việt Nam với các nước. Việc coi Laos, Cambodia là các nước “phiên thuộc” trong quá khứ, và là những người “em” cộng sản trong thế kỷ XX, coi Thailand là kẻ đối địch trong vấn đề Cambodia thời Nguyễn, và “tay sai” của đế quốc Mỹ trong chiến tranh chống Mỹ 1954-1975 vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức chúng ta viết sử và dạy sử khu vực. Việt Nam đã có những đóng góp lớn đối với lịch sử khu vực cũng như đối với các dân tộc này. Nhà Trần đã ba lần đánh bại quân Mông-Nguyên ở cửa ngõ Đông Nam Á. Tuy nhiên Đại Việt không phải là nước duy nhất trong khu vực làm được kỳ tích này. Người Myanamar và Java cũng viết những trang sử tương tự.[27] Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, nhưng trước đó, đạo quân này từng bốn lần đại bại dưới tay người Miến, và trong một hành động mang tính biểu tượng, kẻ xâm lược đã phải tự tay nấu chảy tất cả súng ống và đốt thuyền bè trước khi rút lui.[28] Nhà Nguyễn từng tạo thế cân bằng với Thailand tại Cambodia và giúp cho vương triều này tồn tại mà không hoàn toàn lệ thuộc vào Bangkok. Người Việt cũng đã giúp Cambodia thoát khỏi ách diệt chủng Pol Pot, đã giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Lào ở thế kỷ XX. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy hệ quả khi chúng ta đánh giá sai lầm khả năng của các nước láng giềng. Đó là tình thế của quân Nguyễn ở Phnom Penh từ 1838 đến 1845 và sau này là cuộc chiến một thập kỷ chống tàn dư Khmer đỏ.

Cần phải có được cách tiếp cận đa chiều trong cách thức viết sử, dạy sử về các nước lân bang, cũng như hiểu biết về nhận thức của láng giềng dành cho người Việt. Lịch sử dân tộc chủ nghĩa từ khung cảnh Thailand luôn đề cao vai trò của họ đã giúp triều Nguyễn “sống xót” để cuối cùng thành có sự thống nhất vào năm 1802. Họ cũng mô tả rằng, chính việc Đại Nam tuyên bố chủ quyền đối với Laos và Cambodia, mà sau này người Pháp lấy cớ đó chiếm hai nước này làm thuộc địa những năm 1880s-1890s, vì thế, Siam mất đi “lãnh thổ” của mình.[29] Hay ở một góc khác ít được biết đến, các biên niên sử Khmer vẫn nhắc lại các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Cambodia chống lại người Việt ở đầu thế kỷ XIX.[30]

Vì vậy, việc đánh giá lại hệ thống tri thức về Đông Nam Á của người Việt và cách thức lịch sử các nước láng giềng được nghiên cứu, giảng dạy và đối sánh nó với các hệ quy chiếu từ bên ngoài giúp định vị lại vai trò của Việt Nam trong tiến trình lịch sử khu vực và toàn cầu như một nỗ lực của hội nhập, sự hội nhập về mặt tri thức.

KẾT LUẬN

Tiến sĩ Henry Kissinger trong bài phát biểu tại hội nghị an ninh Munich (Đức) lần thứ 50 (2014) đã so sánh Châu Á của thế kỷ XXI mang những ẩn tàng xung đột quân sự và thù nghịch như những gì ở châu Âu thế kỷ XIX.[31] Điều này có thể mang tính cảnh báo nhiều hơn là thực tế, tuy nhiên nó hàm ý về tính sôi động chính trị và quân sự ở đây mà các nghiên cứu mang tính khu vực là cần thiết để hiểu về xu thế, các nguy cơ và triển vọng. Đông Nam Á nằm ở giữa các hành lang an ninh và kinh tế Thái Bình Dương, xuyên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, vì thế mà nó cũng được kỳ vọng sẽ kéo theo sự phát triển của các trung tâm học thuật mới nghiên cứu về Đông Nam Á và các cấu trúc mở rộng. Đó là cơ hội của giới học thuật đóng góp vào tiến trình khu vực hóa và toàn cầu hóa của tri thức, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về tính cấp thiết của việc thay đổi cách tiếp cận và đa dạng hóa lí thuyết phản ánh, bên cạnh khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa và lấy người Việt làm trung tâm.

Nhận thức sự thay đổi của nghiên cứu khu vực học, hội nhập vào môi trường học thuật thế giới là yêu cần cấp thiết của giới hàn lâm Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong nỗ lực tìm kiếm mô hình phát triển và đóng vai trò mới trong thời kỳ khu vực hóa và toàn cầu hóa. Để làm điều đó, chúng ta không chỉ cần lí thuyết hay cách thức tiếp cận mới, mà quan trọng hơn là định vị lại lịch sử Việt Nam và người Việt trong không gian khu vực. Đánh giá lại cách thức của các mối tương tác của quá khứ làm cơ sở cho sự hội nhập của hiện tại và tương lai.

notes:

[1] Francis Fukuyama, The End of History and the Last Man (New York: Simon and Schuster, 2006); Thomas L. Friedman, The Lexus and the Olive Tree: Understanding Globalization (New York: Picador; 2012), idem, The World Is Flat 3.0: A Brief History of the Twenty-first Century (New York: Picador, 2007)

[2] Goh Beng-Lan, Disciplines and Area Studies in the Global Age: Southeast Asian Reflections, in Decentring and Diversifying Southeast Asian Studies: Perspectives from the Region, ed., Goh Beng-Lan (Singapore: ISEAS, 2011), pp. 1-2

[3]  http://www.leidenglobal.org/

[4]  http://www.sophia.ac.jp/eng/studentlife/academic_services/bulletin/2014bulletin-Graduate/bulletin_gpgs

Also, Kono Yasuyuki, Evolution of Southeast Asian Studies in Japan and Its Global Implications, keynote speech, Annual Taiwan Conference on Southeast Asian Studies, Academia Sinica, Taiwan: April 15-26th, 2014

[5] Edward W. Said, Orientalism (Knopf: 1979)

[6] Vicent Houben, The New Area Studies and Southeast Asian History, Dorisea Working Paper Vol. 4. (Göttingen: 2013), p. 3

[7] J. C. Van Leur, Indonesia Trade and Society: Essays in Asian Social and Economic History (The Hague: van Hoeve, 1955), P. 261

[8] Benedict  Anderson, Studies of the Thai State: The Sate of Thai Studies, in E. ayal, ed., The State of Thai Studies: Analyses of Knowledge, Approaches, and Political science (Athen, Ohio: Ohio Universty Center for International Studies, Southeast Asian Studies Program, 1978), p. 232; Donald K. Emmerson, “Southeast Asia”: What’s in a Name? Journal of Soutehast Asian Studies, 15 (1984), pp. 7-10

[9] Ruth Mcvey, Changing and Continuity in Southeast Asian Studies, Journal of Southeast Asian Studies, 26 (1995), p. 6

[10] Geertz, Clifford Negara: The Theatre State in Nineteenth-Century Bali (Princeton, NJ: Princeton University Press: 1980); Oliver W. Wolters, History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives (Singpapore: ISEAS, Revised edition, 1999); Renée Hagesteijn (1989), Circles of Kings: Political Dynamics in Early Continental Southeast Asia, Verhandelingen van het Koninklijk Instituut voor Taal-, Land- en Volkenkunde (138), Dordrecht and Providence, RI: Foris Publications; Stanley J. Tambiah (1977), “The Galactic Polity. The Structure of Traditional Kingdoms in Southeast Asia”, Anthropology and the Climate of Opinion, Annals of the New York Academy of Sciences (New York) 293: 69–97; Benedict Anderson, Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism (London: Verso, 2006); Thongchai Winichakul, Siam Mapped: A History of the Geo-Body of a Nation (Honolulu: University of Hawaii Press, 1994); James C. Scott, The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia (New Haven: Yale University Press, 1977); James C. Scott , Weapons of the Weak: Everyday Forms of Peasant Resistance (New haven: Yale University Press, 2008)

[11] Patricia J. Campbell, Aran MacKinnon, and Christy R. Stevens, An Introduction to Global Studies (Wiley-Blackwell, 2010)

[12] Willem Van Schendel, Geographies of knowing, Geographies of Ignorance: Juping Scale in Southeast Asia, in Locating Southeast Asia: geographies of Knowledge and Politics of Space, eds., Paul H. Kratoska, Reco Raben, and Henk Schulte Nordholt, (Singapore: NUS Press, 2005), pp. 275-307

[13] Andrew J. Abalahin, “Sino-Pacifica”: Conceptualizing Greater Southeast Asia as a Sub-Area of World History, Journal of World History, Vol. 22 (2011), No. 4. pp, 659-691

[14] Trần Thị Vinh, Hội nhập khu vực về nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đông Nam Á: vấn đề đặt ra cho các trường đại học Việt Nam, Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (2004), tr. 46-48

[15] Peter Zinoman, “Vietnamese Americans and the Future of Vietnamese Studies in the United States”. In Southeast Asian Studies: Pacific Perspectives, edited by A. Reid, (Tempe, Arizona: SEA Program of Arizona State University and University of California at Los Angeles, 2003), pp. 295–307

[16] Vu Duc Liem, “Weaving Mekong, Connecting Pasts, and Integrating Future: ASEAN’s Young Scholarly Connectivity”, Conference on Southeast Asian Studies in ASEAN and Global Context, Bangkok: Chulalongkorn Univesity : June 2nd, 2014

[17] Victor T. King, Defining Southeast Asia and the Crisis in Area Studies: Personal Reflection on a Region,  in Southeast Asian Studies: Debates and New Directions, eds., Cynthia Chou and Vincent Houben (Singapore: ISEAS, 2006), pp. 38-39

[18] Boike Rehbein, Critical Theory after the Rise of the Global South,  Transcience Journal, Vol. 1, No. 2 (2010), pp. 1-17

[19] Patrick Manning, Navigating World History: Historians Create a Global Past (Palgrave Macmillan, 2003). Một nỗ lực gần đây nhất của học giả Việt Nam nhằm đa dạng hóa cách thức tiếp cận lịch sử người Việt chính là Tạ Đức, Nguồn gốc Người Việt-Người Mường, Hà Nội: Nxb Tri Thức, 2014, tuy nhiên rõ ràng là công trình này có nhiều vấn đề cần phải thảo luận lại cả về lập luận lẫn tư liệu.

[20]  Wilhelm G., II Solheim, David Bulbeck, and Ambika Flavel, Archaeology and Culture in Southeast Asia: Unraveling the Nusantao (Honolulu: University of Hawai’i Press: 2007); Charles Holcombe, Early Imperial China’s Deep South: The Viet Regions through Tang Times, T’ANG STUDIES, 15-16 (1997-98), pp. 125-56; Sun Laichen, Military Technology Transfers from Ming China and the Emergence of Northern Mainland Southeast Asia (c. 1390-1527), Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 34, No. 3 (Oct., 2003), pp. 495-517; Anthorny Reid, Southeast Asian in the Age of Commerce, 2 vols (New Haven: Yale University Press, 1988/1993)

[21] Victor Lieberman, Strages Parallels, 2 vols (Cambridge: Cambridge University Press, 2003, 2009)

[22] Hoàng Anh Tuấn, Quốc tế hoá lịch sử dân tộc: Toàn cầu hoá cận đại sơ kì và lịch sử Việt Nam thế kỉ XVII, in trong: Nhiều tác giả, Di sản lịch sử và những hướng tiếp cận mới (Tủ sách khoa học xã hội – Chuyên khảo về Khảo cổ học và Lịch sử – do Viện Harvard Yenching, Đại học Harvard, tài trợ xuất bản), Nxb. Thế Giới, H., 2011, tr. 247-282; cùng tác giả, Khu vực học và Nghiên cứu Toàn cầu: Quá trình lịch sử và khuynh hướng phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Hà Nội, 12/2011, tr. 35-44.

[23] Vincent Houben, Việt Nam trong khung cảnh Đông Nam Á: Những giao điểm và sự so sánh, Tham luận tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 từ ngày 5-7/12/2008

[24] Nhung Tuyet Tran & Anthony Reid, eds., Vietnam, Borderless Histories (Madison, Wisconsin: University of Wisonsin Press, 2006); Oscar Samelink, Trading goods, prestige and power. A revisionist history of lowlander – highlander relation Vietna, in Linking Destinies. Trade, Towns and Kin in Asian History, eds., Peter Boomgaard, Dick Kooiman, and Henk Schulte Nordholt Leiden: KITLV Press 2008); Li Tana, A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnamese Coast, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 37, No. 1 (Feb., 2006), pp. 83-102; Charles Wheeler , Re-Thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận-Quảng, Seventeenth-Eighteenth Centuries, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 37, No. 1 (Feb., 2006), pp. 123-153; James C. Scott, The Art of Not Being Governed: An Anarchist History of Upland Southeast Asia (New Haven: Yale Agrarian Studies, Yale University Press, 2009)

[25] Charnvit Kasetsiri, et al., comp., Bannanukrom esia a-kha-ne suka nai pratet thai [A Bibliography of Southeast Asian Studies in Thailand], 2nd priting (Bangkok: Thailand Research Fund, 1995), p. 9

[26] Thongchai Winichakul, Trying to Locate Southeast Asian from Its Navel: Where is Southeast Asian Studies in Thailand, in Locating Southeast Asia: geographies of knowledge and politics of space, eds., Paul H. Kratoska, Remco Raben, Henk Schulte Nordholt (Singapore: Singapore University Press, 2005)

[27] Daniel George Edward Hall , A History of South-East Asia (Palgrave Macmillan, 1981)

[28] Yingcong Dai, A Disguised Defeat: The Myanmar Campaign of the Qing Dynasty, Modern Asian Studies, Vol. 38, No. 1 (Feb., 2004), pp. 169

[29] Thongchai Winichakul, Trying to Locate, pp. 120-121

[30] David P. Chandler , An Anti-Vietnamese Rebellion in Early Nineteenth Century Cambodia: Pre-Colonial Imperialism and a Pre-Nationalist Response, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 6, No. 1 (Mar., 1975), pp. 16-24

[31] http://www.bloomberg.com/news/2014-02-02/kissinger-says-asia-is-like-19th-century-europe-on-use-of-force.html

Nghiên cứu Lịch sử, số 1/ 2016

TIẾP CẬN KHU VỰC HỌC TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐÔNG NAM Á TRUYỀN THỐNG: TRƯỜNG HỢP SRIVIJAYA

 

AREA STUDIES APPROACH TO RESEARCH ON EARLY HISTORY OF SOUTHEAST ASIA: THE CASE STUDY OF SRIVIJAYA

Vũ Đức Liêm

 

Phần lớn các học giả đều cho rằng Việt Nam không có truyền thống nghiên cứu sử hàng hải mà minh chứng cho nó là việc tiếp cận vấn đề này khá dè dặt và hạn chế trong lịch sử. Thực tế là trong những năm gần đây, việc nghiên cứu chủ đề này đã được đẩy mạnh chủ yếu do sự “lên ngôi” của nó trong môi trường học thuật khu vực và thế giới. Do đó, nghiên cứu hải thương không còn là vấn đề quá mới mẻ ở Việt Nam, tuy nhiên, đã đến lúc cần thiết phải xác lập những cách thức tiếp cận có tính khu vực dành cho các chủ thể trong thế giới hàng hải Đông Nam Á vốn có nhiều sự khác biệt giữa thế giới hải đảo và lục địa.[2] Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu bước đầu rất đáng chú ý như sự ra đời của nhóm nghiên cứu “Thương mại châu Á”, các hội thảo về vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển khu vực cũng như sự định hình của các quan điểm mới liên quan đến cách thức tiếp cận đối với thương mại biển Đại Việt,[3] chúng tôi cho rằng điều này nên được đẩy mạnh hơn nữa và bài viết nằm trong nằm trong xu thế đó khi hướng đến cách tiếp cận khu vực học trong nghiên cứu về đế quốc thương mại Srivijaya trong thế giới Malay Đông Nam Á.[4]

Từ lâu, các nhà sử học, ngôn ngữ và nhân chủng đã cố gắng định hình không gian các mạng lưới trao đổi của người Nam Đảo/Austronesians với phạm vi không gian và thời gian khác nhau, gắn liền với các khu vực địa lý, văn hóa nhất định trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Sớm nhất trong số này và trùm lên không gian biển Đông Nam Á là mạng lưới Nusantao (NMTCN) bắt đầu từ 5000 TCN (Solheim: 1975, 2006: 57-140; Andaya 2008: 25). Khi các cộng đồng Malay Đông Nam Á được xác lập vững chắc và tạo dựng nên bản sắc cũng như nắm giữ vai trò nhất định trên các phân vùng thương mại khu vực thì người ta bắt đầu chú ý đến việc định dạng các không gian hải thương nhỏ hơn, gắn với chủ thể thương mại nhất định như không gian của thủy thủ Malay (Wolters 1967; Shaffer 1996), hay các mạng lưới tiểu vùng trong tương tác với hệ thống thương mại liên vùng: biển Java, biển Champa, biển Celebes, biển Sulu, biển Banda, khu eo biển Melaka. Gần đây nhất, một loạt các chủ thể thương mại hành hải khu vực đã được định hình. các học giả Việt Nam và thế giới đang cố gắng định hình khái niệm Đại Việt, Việt Nam, người Việt trong không gian thương mại biển Đông (Momoki Shiro 1998; Charles Wheeler 2001, 2006; John K. Whitmore 2006; Li Tana 2006; Hoàng Anh Tuấn 2008).[5] Pierre-Yves Manguin (1985), Roxana Brown and Peter Burn (1990), G.Wade (1993), Anthony Reid (1999), Micheal Vickery (2005) đề cập đến người Chàm trong thương mại biển Đông. Nghiên cứu của vợ chồng GS. Andaya (Hawaii University) đề cập đến vai trò của người Malay trong hệ thống thương mại eo biển từ đầu công nguyên cho đến cho đến thời tiền hiện đại (B.W. Andaya & L.Y. Andaya, 1983; L.Y. Andaya 2008). Việc phân lập vùng thương mại biển Đông Nam Á và sử dụng các khái niệm nhằm khu biệt phạm vi hoạt động của đối tượng nghiên cứu rõ ràng đã đưa lại những kết quả đáng chú ý hướng đến những khảo sát mới và toàn diện về các đối tác chủ thể trong thế giới hàng hải Đông Nam Á.

Ở đây, chúng tôi đề cập đến cách thức tiếp cận khu vực/Area Studies trong nghiên cứu lịch sử thương mại Đông Nam Á trước năm 1511 thông qua trường hợp (case study) của đế quốc thương mại Srivijaya (VII-XIII). Để thực hiện điều này, chúng tôi nhận thức sự cần thiết phải đặt đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể hàng hải thống nhất trong sự tương tác của nó với các yếu tố bên trong và bên ngoài/Inter-and intra-regional relations. Khi làm nổi bật tính chất vùng/khu vực của chủ thể, yêu cầu tất yếu là sự cần thiết phải xác định rõ các phạm trù phản ánh đặc thù về phạm vi địa lí, không gian phân bố hàng hải và hoạt động kinh tế, cũng như các yếu tố đặc trưng điển hình của không gian hàm chứa đối tượng nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là các ranh giới về văn hóa, dân tộc, ngôn ngữ hay khu vực kinh tế… cần thiết phải được xác định một cách tương đối, đôi khi các đường biên ngôn ngữ và văn hóa này có thể chồng lấn hay vượt qua các ranh giới quốc gia. Trên cơ sở đó, tác giả hy vọng bài viết này sẽ giúp định hình các đặc trưng của đế chế thương mại Srivijaya nhìn từ thế giới Malay.

Austronesians và Thế giới Malay Đông Nam Á

Nam Đảo/Austronesia là thuật ngữ được các nhà ngôn ngữ học sử dụng để chỉ một tập hợp/gia đình ngôn ngữ mà nguồn gốc của nó còn là vấn đề tranh luận. Trường phái của Solheim cho rằng nguồn gốc của nhóm ngôn ngữ này từ duyên hải miền Trung Việt Nam khoảng 5000 năm TCN, trong khi theo P. Bellwood, xuất phát điểm của người Austronesian là đảo Đài Loan khoảng 4000 năm TCN (Solheim 2006; Peter Bellwood 1992, 1997, 2006, Andaya 2008: 19-21). Theo đó, trong khoảng từ 5000-7000 năm trước đây người Austronesian đã tiến hành hàng loạt các cuộc di cư mang theo kỹ thuật canh tác nông nghiệp, đóng tàu, chế tạo đồ gốm xuống phía nam và phát triển thành nhiều nhánh khác nhau trong suốt hàng nghìn năm. Austronesian được coi là nhóm ngôn ngữ đông đảo nhất, lớn nhất với khoảng 1000-1200 ngôn ngữ trong tổng số hơn 6000 ngôn ngữ hiện nay trên thế giới (Andaya 2008: 1). Theo các nhà nghiên cứu, người Austronesians đã tiến hành các cuộc di cư trên biển đáng khâm phục hàng nghìn năm, để trở thành ngữ hệ được trải rộng nhất trong thế giới tiền hiện đại. Chính họ đã đưa ngữ hệ của mình vượt qua 1/3 địa cầu và là những kẻ nổi bật nhất của biển và duyên hải, những người am hiểu gió và thủy triều, đóng thuyền với móc chèo. Và vì thế, họ buộc hàng nghìn hòn đảo và các vùng đất Âu-Á bao la kề cận với họ thành một mạng lưới quan hệ mậu dịch và liên lạc phụ thuộc lẫn nhau. Cũng chính người Austronesia trong hàng nghìn năm, giữ vai trò tiên phong gắn kết Đông Nam Á hải đảo vào mạng lưới mậu dịch toàn cầu trải dài trên phần lớn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rất lâu trước khi người Hoa hạ Tây Dương và người Châu Âu xuất hiện (A.Reid 1999; Belwood 2000, 2004, 2006; Lương Ninh 2008).[6]

srivijaya 0

Phân bố địa lí của ngữ tộc Austronesian (Bellwood & Eusebio Dizon 2008: 24)

Tiếng Malay là ngôn ngữ chính trong ngữ hệ Austronesia mà ngày nay đã trở thành chính thức ở Malaysia, Brunei; Indonesia và là một trong bốn ngôn ngữ được công nhận ở Singapore. Không gian của vùng địa lý cư trú của những người nói ngôn ngữ Malay được gọi là Thế giới Malay. Ngày nay, khu vực này bao gồm một cộng đồng trải dài trên khu vực hàng hải từ Papua (147007’Đ) ở phía Đông qua Indonesia, Malaysia, nam Thái Lan, đến Madagascar (47031’Đ) ở phía tây và ngược lên Philippines, Đài Loan (23046’B) ở phía bắc (A. Milner 2008:x). Tuy chỉ là một trong số hàng nghìn ngôn ngữ thuộc nhóm Austronesian, tuy nhiên, Malay đóng vai trò rất quan trọng vì nhiều lí do: Thứ nhất, là ngôn ngữ có số người sử dụng đông nhất trong ngữ hệ Austronesia với khoảng 350 triệu (Peter Bellwood 2004: 25; Anthony Milner 2008:2). Thứ hai, phạm vi của nhóm ngôn ngữ này phân bố rộng, có vị trí chiến lược vắt qua hai đại dương, dọc theo lục địa Á-Âu, phản ánh dấu ấn của sự lưu truyền và kết nối nhiều thành tựu văn hóa, văn minh trong lịch sử nhân loại và cũng chính nhóm người này đóng vai trò lớn trong nhiều biến cố lịch sử. Thứ ba, tính năng động và hăng hái trên biển của người Malay được dẫn dắt bởi các nhóm người Biển.[7]

Các nhóm người Biển/Orang Laut là bộ phận giữ vai trò quan trọng trong các mối giao thương Đông Nam Á như là bộ phận tiên phong của thế giới Malay. Có ba nhóm người Biển rất đáng quan tâm trong sự hưng thịnh của thế giới Malay thế kỷ VII-XIII:

  1. Người Moken và Moklen ở quần đảo Mergui của Myanmar kéo dài xuống các đảo tây nam Thái Lan.
  2. Người Orang Laut cư trú tại khu vực quần đảo và cửa sông Riau-Lingga, quần đảo Bantam chạy dọc theo vùng duyên hải đông Sumatra, Singapore đến tận phía nam của Johor. Ở phía tây bắc, có một nhóm nhỏ khác những người Orang laut được gọi là Urak Lawoi chiếm giữ khu vực hàng hải từ Phuket đến nhóm đảo Adang, gần tiếp giáp với khu vực của người Moken-Moklen.
  3. Người Sama-Bajau, là nhóm người biển lớn nhất, cư trú trên diện tích khoảng 1.25 triệu dặm vuông trải dài từ nam Philippines, đông đảo Borneo và Sulawesi, kéo dài xuống nam và đông nam tới các đảo đông Indonesia, tận Flores và nam Moluccas (P. Bellwood, James J. Fox, Darell Tryon, 2006: 256-257).

Do sự thúc đẩy buôn bán và nhu cầu trao đổi gia tăng, các nhóm người Biển đã liên kết với nhiều cộng đồng bản địa trên bán đảo Malay và quần đảo Indonesia. Trên cơ sở đó, một loạt các nhà nước cảng thị/city-states ra đời mà cơ sở liên minh tộc người có thể được định hình như cột trụ của sự tồn tại này: các nhóm người Rừng (Orang Glai) hay người miền Núi với các cộng đồng duyên hải, ven cửa sông và các nhóm người Biển. Khối liên minh này, mới nhìn qua giản đơn tưởng như là các khâu của một chu trình thương mại và phân phối hàng hóa khép kín dọc theo các hệ thống trao đổi ven sông đã được Benet Bronson đề xuất và K.R. Hall tán đồng (B. Bronson 1977, K. Hall 1985), nhưng thực tế, bộ máy đó vận hành chặt chẽ, hiệu quả như những đế chế đảo (D.G.E. Hall 1955) và các nhóm dân có vai trò rất phức tạp xoay quanh việc vận hành một hệ thống thương mại trải dài trên hàng chục nghìn cây số vuông với sự tham gia của nhiều nhóm người khác nhau mà ngày nay, thậm chí với chúng ta vẫn là vấn đề khó.

Các nghiên cứu về cộng đồng Orang Laut thế kỷ VII-XIII chỉ ra phạm vi hoạt động rộng lớn, cuộc di cư quy mô, cũng như hoạt động mạnh của họ trên các vùng biển Đông Nam Á từ Philippines đến vịnh Thái Lan và khu vực quần đảo Indonesia. (Clifford Sather 2006: 245-285, Andaya 2008). Chính họ là một trong những nhân tố góp phần định hình nên các trung tâm thương mại lớn đầu tiên của khu vực hải đảo cũng như tạo cơ sở cho giai đoạn được coi như là kỷ nguyên sớm của thương mại Đông Nam Á 900-1300 (K. Hall 1992: 252; G.Wade 2006). Adri Lapian (Jakarta) và Kathirithamby-Wells (Kuala Lumpur) còn đi xa hơn nữa khi tán dương họ như những nhóm người đã góp phần giúp tạo lập ra thế giới Đông Nam Á hiện đại thông qua việc làm trung gian giữa các nhóm sắc tộc phân bố trên không gian rộng lớn với tư cách là những nhà mậu dịch, những người đi biển, người hành hương, học giả, những kẻ phiêu lưu và binh lính (A. Reid 1999: 40).

Chính vai trò của các nhóm người Biển và sự tương tác, lệ thuộc lẫn nhau giữa các cộng đồng Malays đã tạo nên cơ cấu linh động trong cấu trúc của xã hội của họ, điều mà thế giới nông nghiệp lục địa cảm thấy xa lạ. A. Reid và K.R.Hall là  những người đã cỗ vũ cho tính đa tầng (multicity) và lưu động (mobility) của thế giới Malay Đông Nam Á khi mô tả rằng việc vạch ra các ranh giới khu vực hoạt động của họ thời kỳ sơ sử là vấn đề khó khăn (A. Reid 1999:39). Rõ ràng, nếu xuất phát từ tư duy và thế giới quan của các xã hội nông nghiệp đơn thuần, chúng ta sẽ khó có thể hiểu biết thấu đáo về các đặc trưng của thế giới Malay, những người mà “sự can dự trong thương mại đường biển chắc chắn là một trong những chủ điểm đã duy trì một cảm thức về đặc tính chung của người Austronesia, nhưng trong một khung cảnh văn hóa đa dạng” và những mô thức chính trị, quan hệ xã hội đầy tính linh động (A.Reid 1999).

Tổ chức chính trị của Srivijaya

Nhiều thế hệ các học giả về lịch sử Đông Nam Á từ G. Coedès (1968), J. G. de Casparis, R.C Majumdar, N. Sastri, D.E.G. Hall, P. Wheatley, O. W. Wolters, K. R. Hall, P.Y. Manguin, H. Kulke, J.W. Christie… đã cố gắng đã cố gắng mô hình hóa cơ cấu chính trị của thể chế Srivijaya từ những nguồn tư liệu ít ỏi của bi ký, văn bản Trung Hoa, Arab đương thời và gần đây nhất là khảo cổ học.

Phần lớn cứ liệu rõ ràng nhất về chính thể Srivijaya liên quan đến 6 tấm bia thế kỷ VII trên đảo Sumatra và thông tin từ sử Trung Hoa. Đã có một số ý kiến từng hoài nghi về sự tồn tại liên tục và thống nhất của Srivijaya từ chính những tấm bia này (B. Bronson 1973, H. Kulke 1993:159), song, những thập kỷ gần đây, nỗi nghi ngờ đó đã nhanh chóng bị xóa tan bởi nhiều cứ liệu lịch sử phong phú và vững chắc. P. Wheatley (1961) dựa chủ yếu trên các mô tả Trung Hoa để phác họa lại cấu trúc chính trị của Panpan và Chihtu với các tước hiệu và cấu trúc từ ý niệm vương quyền Trung Hoa với nhà vua đứng đầu một bộ máy quan chức trung ương và địa phương, với các hoàng tử được cử đi trấn trị và bốn viên bộ trưởng sa-to-chia-lo, to-na-ta-yu, chia-li-mi-chia, chu-lo-mo-ti quản lí các lĩnh vực (Wheatley 1961:28-29,49; J. Kathirithamby-Wells & John Villiers 1990: 75-76).

K.R. Hall trong nghiên cứu về nhà nước và chính quyền của Srivijaya đã mô phỏng quan điểm của mình về hệ thống chính thể này như là nhóm liên minh của các cảng thị, trong khi vương quyền Srivijaya thì theo những mô thức của chế độ thủ lĩnh truyền thống (1976: 79,92; 1985: 78-102). Ông chủ yếu phác thảo nhà nước Srivijaya dựa trên bia Telaga Batu (686), điều làm nhiều người hoài nghi vì sự ngắn gọn và tính chất tôn giáo của tư liệu. Theo đó, ở trung tâm Palembang là nhà nước vương quyền truyền thống Malay, trong khi, càng đi xa khỏi hạt nhân chính trị, tính chất nhà nước mất dần, không rõ mà chủ yếu là những vùng ảnh hưởng hay các liên minh cảng thị dựa trên lợi ích thương mại và sức ép quân sự.

srivijaya 1

Một học giả khác, Wolters trong “Lịch sử, văn hóa, vùng trong viễn cảnh Đông Nam Á” đã cố gắng định hình nên lí thuyết tản quyền mandalas, được vay mượn từ triết học và tôn giáo Ấn Độ, cho các chính thể Đông Nam Á sơ kỳ mà ở đó, Srivijaya được mô tả là một mandalas vĩ đại, điển hình: “sự bất định nổi tiếng về khoảng cách địa lí và cá tính chính trị của nó là một thí dụ nổi bật về bản chất vô định hình của các mô hình thu nhỏ mandalas vĩ đại trong lịch sử Đông Nam Á trước đây” (Wolters 1999:17, 32; Lương Ninh 1998; Rosita Dellios 2003).[8]

Các quan điểm này đều được chấp nhận ở những mức độ nhất định và tạo ra ảnh hưởng rất sâu rộng đến nhiều học giả khu vực mà một trong số đó là các nhà nghiên cứu trẻ Việt Nam, những người có xu hướng áp dụng mẫu hình mandalas cho phần lớn nền chính trị Đông Nam Á truyền thống. Các nghiên cứu gần đây, bao gồm cả Victor Lieberman đã tỏ vẻ hoài nghi sức mạnh và quyền kiểm soát thực sự của Srivijaya. Dù thừa nhận rằng đó là đế quốc hùng mạnh nhất của khu vực quần đảo trước năm 1400, song ông so sánh nó với Cantoli (xem Wolters 1967) ở giai đoạn trước và đế quốc Bồ Đào Nha thời cận thế rằng: Srivijaya không phải là một đế quốc bành trướng lãnh thổ mà là một đế quốc chiếm giữ các điểm chiến lược trên các tuyến thương mại chủ đạo (Lieberman 2009: 772).  Một số người khác cố gắng điển hình hóa một vài đặc điểm nào đó của các thể chế Đông Nam Á sơ kỳ như luận điểm về các biên giới mềm trong tương tác chính trị Đông Nam Á truyền thống (Thongchai Winichakul 1994) hay nhìn nhận các đế quốc sơ kỳ như Srivijaya được tổ chức và vận hành như một liên minh/ đế quốc sắc tộc (Clive J. Christie 1996). Tuy nhiên, có hai điều đang tác động các quan điểm này theo những chiều hướng khác nhau.

Thứ nhất, quan điểm của học giả Đức H. Kullke, người từng ủng hộ mô hình mandalas của Wolters (1986), đã tiến thêm một bước nữa (1993) trong nỗ lực gắn kết ý tưởng mandalas, mô hình “vòng tròn các ông vua” với nền chính trị truyền thống Malay. H. Kulke đã lên tiếng cho rằng trong nhiều thập kỷ, các học giả mẫu mực như Hein-Geldern, G. Coedès (1968), R.C. Majumdar, L.P.Briggs (1950) đã suy tưởng một cách quá dễ dãi các bi ký Đông Nam Á khi vẽ ra các nhà nước tập quyền. Và rằng: các sử gia hiện đại đã trở thành nạn nhân của một âm mưu nham hiểm thực sự của các triết gia và sử gia Trung Hoa, Ấn Độ thời cổ và các bản ghi chép chính thức nhằm che dấu sự thực lịch sử bởi vì người ta biết rõ rằng các nhà triết học Ấn Độ và đồng sự cùng thời của họ ở Đông Nam Á phác họa lí thuyết sastric về nhà nước, trong khi các nhà thơ cung đình và người soạn văn bia chỉ chú ý đến việc vận dụng nghệ thuật ngôn từ sao cho tinh tế. Do đó, không ai trong số này quan tâm đến việc mô tả một cách chi tiết cấu trúc thực sự của nhà nước cũng như các đường biên giới thật của nó. Mặt khác, các quan chức Trung Hoa/hung lu ssu phụ trách đón tiếp sứ thần nước ngoài và ghi chép về các quốc gia này chắc chắn có quan tâm đến tình hình cụ thể của “các nước mọi rợ phương nam”. Nhưng báo cáo của họ trình lên hoàng đế và cung cấp cho các nhà chép sử đã được chuyển hóa theo phong cách văn phong chính thức và thấm nhuần sâu đậm bởi ý niệm quốc gia tập quyền Trung Hoa (H. Kulke 1986: 2).

Khi đặt mô hình mandalas trên nền tảng chính trị Malay truyền thống, thách thức đầu tiên và quan trọng mà H. Kulke phải đối mặt là sự luận giải về tư tưởng vương quyền trong tấm bia Telaga Batu mà chính ông phải thừa nhận: “trước tiên, phải thừa nhận rằng (danh sách quan chức từ tấm bia) phản ánh sự phát triển cao và chặt chẽ của hệ thống chính quyền. Srivijaya xuất hiện như một nhà nước hùng mạnh và tổ chức tốt. Điều này càng được củng cố nếu ta đọc các bản dịch văn bia sử dụng các khái niệm như “royame”, “kingdom”, và thậm chí “empire”. Ý tưởng của Kulke là ở chỗ ông tìm cách lí giải các chức danh từ tấm bia dưới ánh sáng của mô hình tản quyền để đi đến kết luận đầy hoài nghi rằng: có chăng sự tồn tại của một trung tâm quyền lực tập trung và duy nhất của maharaja Srivijaya? Việc đánh đồng ý niệm “vương quyền truyền thống” với cấu trúc mandalas đã thách thức các nỗ lực học thuật công phu của K.Hall và sơ đồ quyền lực của ông (1985). H. Kulke đã đưa ra sơ đồ các vòng tròn của nhà nước tản quyền Sriviajya dưới đây và cho rằng sự luận giải về một mô hình tập quyền của những người đi trước là sai lầm.

srivijaya 2

Theo đó, mô hình chính trị Srivjaya theo quan điểm của H. Kulke dựa trên các tấm bia từ thế kỷ VII được phỏng theo đúng lí thuyết “vòng tròn của các vị vua” (H. Kulke 1986:3, 1993:172)  hoặc được gọi với tên khác là “mô thức đa trung tâm triều đình Kraton/kadatuan”. Theo đó, Srivijaya là một tập hợp của các mandalas, đứng đầu mỗi mandalas chư hầu là một thủ lĩnh Datu và tất cả đều phục tùng mandalas tôn chủ của Maharaja, người mang trong mình ý niệm vương quyền Ấn Độ. A. Reid có vẻ như ủng hộ sự giải thích mới này và coi các chính thể đa trung tâm là cơ cấu chính trị của không gian Austronesia khi ông áp dụng nó cho người Chàm (A. Reid 1999: 49). Quan điểm của H. Kulke chắc chắn sẽ còn phải tiếp tục bàn luận vì nó đã làm lúng túng cả những người ủng hộ cũng như phản đối mô hình tản quyền. Điều này đã nhanh chóng được thể hiện thông qua một công trình gần đây của M. Munoz (2006) khi ông chỉ ra 4 điểm quan trọng mà mô hình Srivijaya tạo nên sự khác biệt rất căn bản với lí thuyết mandalas truyền thống do Wolters và Kulke xây dựng (xem Munoz 2006: 120, D.G.E Hall 1997; Nguyễn Văn Kim 2008). Trong khi quan điểm của một số học giả khác tìm các luận giải về những điểm khác biệt này với tính cách của một thời kỳ chuyển giao mà ở đó, Srivijaya nằm trong giai đoạn trung gian của quá trình hình thành nhà nước, một chính thể ở giữa mandalas và đế chế (Ngô Văn Doanh 2009:6).

Thứ hai, nghiên cứu liên ngành, đặc biệt là khảo cổ học và dân tộc học liên quan đến các mạng lưới trao đổi kinh tế của thế giới Malay đã thách thức việc đơn thuần áp đặt mô hình chính trị và tư tưởng vương quyền từ bên ngoài vào khu vực này (Chúng tôi sẽ làm rõ không gian của các quan hệ kinh tế trong thế giới Malay và tác động của nó ở phần sau). Các dấu tích khảo cổ học những năm 70 trở lại đây hé lộ nhiều di chỉ quan trọng của các nhà nước sơ kỳ ở cả Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Trong phạm vi không gian thế giới Malay chúng ta đang khảo sát, đáng lưu ý là Phù Nam (Miriam T. Stark 2004, 2006, 2008), bán đảo Malay (Ian Glover 1989, M. Jacq-Hergoualc’H 2002, Dougald J. W. O’Reilly 2007), Srivijaya (J.N.Miksic, E.McKinnon, P.Y.Manguin, Satyawati Suleiman…). Bản thân các phát hiện mới này cũng gây ra sự luận giải theo những xu hướng khác nhau. Những người ủng hộ cơ cấu tản quyền thì tuyên bố rằng đó là biểu hiện của “một khuôn mẫu vô cùng khác biệt của các khu định cư đa cấp và của các trung tâm chuyển đổi”-một biểu hiện của các xã hội đa trung tâm dựa trên các liên hiệp tạm thời và mong manh (A. Reid 1999:49).[9] Mặc dù vậy, các ví dụ đưa ra của Phù Nam, Angkor, Majapahit là chưa thực sự thuyết phục, nhất là trong bối cảnh các khai quật khảo cổ gần đây. Dự án khảo cổ LOMAP ở trung và hạ lưu sông Mekong đã chỉ ra sự tập trung và ổn định của một kinh đô duy nhất Angkor Borei (Miriam T. Stark 2004, 2006). Sự chuyển dịch kinh đô của Campuchia trước khi đến Angkor không phản ánh xu thế đa trung tâm mà là sự dịch chuyển của một trung tâm, còn kinh đô/hạt nhân của Srivijaya thì chưa bao giờ ra khỏi đông nam Sumatra (P.M.Munoz 2006: 153-4). Vì thế, việc dựa trên các dấu tích khảo cổ để luận giải về mô hình chính trị Srivijaya cần tiếp tục có những nghiên cứu sâu rộng và thận trọng hơn.

Thực tế, đã không có những điểm chung giữa nhận thức của các học phương Tây với một số nhà nghiên cứu Việt Nam xung quanh chủ đề này. Một bên, có vẻ như đã đi quá xa trong việc mô tả tính linh động, tính lỏng lẻo và tính phân tán, trong khi ở một thái cực khác, một số lại chịu ảnh hưởng của các xã hội nông nghiệp truyền thống và mô hình phương Đông để đi đến phủ nhận mandalas mà thực chất là những đặc trưng vương quyền riêng có của thế giới Malay. Điều cần thiết, như luận đề của chúng tôi, là phải đặt thực thể Srivijaya trong không gian văn hóa, chính trị và quan hệ kinh tế của thế giới Malay. Quan điểm của chúng tôi cho rằng không nên coi các chính thể Đông Nam Á truyền thống theo những cách thức dập khuôn cứng nhắc theo mô hình Ấn Độ hay kiểu cơ chế mandalas vì điều đó đồng nghĩa với việc khoác lên mình tất cả cái áo của yếu tố ngoại lai trong khi cố tình quên đi sự hiện hữu các yếu tố bản địa trong cơ cấu và sự vận hành của nó. Srivijaya nên được xem xét là một phức hợp chính trị xen kễ giữa các yếu tố Ấn hóa và cơ cấu chính trị truyền thống của thế giới Malay dưới tác động của các mạng lưới thương mại phức tạp song được tổ chức rất chặt chẽ. Một trong các điểm đáng lưu ý của nó là thuộc tính về sự Ấn Độ hóa không đều, càng vào sâu nội địa như khu vực Minangkabau hay miền núi của bán đảo Malay thì ảnh hưởng Ấn Độ suy giảm, và đó là nơi mà truyền thống của các thủ lĩnh Malay được bảo tồn. Rõ ràng việc luận giải về cơ cấu vương quyền Malay truyền thống theo cách của K. Hall (1985) có vẻ hợp lí hơn so với nỗ lực tìm cách đồng nhất cơ cấu này với mẫu hình tản quyền của H.Kulke (1993).

Có sự đa dạng của các tư liệu lịch sử phản ánh rõ tính chất vương quyền Ấn Độ và tính chất vương quyền Malay song hành trong nền chính trị Srivijaya. Ghi chép của nhà sư hành hương Nghĩa Tĩnh và kết quả nghiên cứu của Manguin 1992-1993 cho thấy chính liên minh của các thủ lĩnh địa phương Malay là cơ sở thiết lập nên thể chế này (Kenneth R. Hall 1992:197; Paul Michael Munoz 2006: 117). Sự vận hành của hệ thống quyền lực này phản ánh rõ tương tác của tư tưởng vương quyền Ấn Độ đối với xã hội Malay. Danh hiệu của nhà vua/maharaja được gọi theo tiếng Sanskrit, nhưng tên các chức quan thì phần lớn gọi theo tiếng Malay (Paul M. Munoz 2006: 124-125). Quyền lực của nhà vua được đề cao theo đúng như những nghi lễ có nguồn gốc Ấn Độ, tiêu biểu trong số này là lễ hội thề nước (Bia Telaga Batu) được khắc trên tấm bia có hình rắn Naga 7 đầu và Yoni.[10] Nhưng mặt khác, nhà vua Srivijaya vẫn duy trì các yếu tố biểu trưng của vương quyền trong thế giới Malay. Ghi chép của người Arab đương thời và các truyền thuyết dân gian cho thấy nhà vua được đồng nhất với các vị thần trong tín ngưỡng bản địa Malay là thần núi Ulu và thần nước Tandrun Luah (bia Kotakapua, Bangka). Các nhà địa lý Arab gọi vua Srivijaya là “Vị thần của nước trên đại dương”, “vua Núi”, “Maharaja của các hòn đảo”, và nhà vua có thể dùng bùa chú để sai khiến cá sấu giúp thuyền bè qua lại các cửa sông. Nhà vua còn được coi là người mang lại sự giàu có và thịnh vượng cho hòn đảo. Chao Ju-kua từng ghi rằng: “Vào một ngày nhất định trong năm, vua Srivijaya không được ăn hạt ngũ cốc vì nếu không trời năm đó sẽ hạn hán và mất mùa… Nhà vua Srivijaya phải tắm rửa bằng nước nhuộm hồng nếu không lũ lụt sẽ cuốn trôi làng mạc trong vương quốc của ông” (K. Hall 1985: 84-85).

srivijaya 3

Sự tồn tại của một vương quyền trung ương tập trung không hề mâu thuẫn với quan hệ thủ lĩnh và sự thần thuộc theo kiểu truyền thống của các cộng đồng Malay thuộc các khu vực xa trung tâm cảng thị. Cơ cấu song hành này rất dễ khiến nhiều người nhầm lẫn theo những thái cực khác nhau. Dễ nhận thấy, do hạn chế giao thông, nhân lực, càng xa hạt nhân Palembang, nhu cầu quản lí lãnh thổ và cư dân có vẻ như càng mờ nhạt, nơi mà chất keo kết dính chính là “sự bảo trợ, lòng trung thành và sức mạnh” cùng với nhu cầu gắn kết các tuyến thương mại (điều này rất khác biệt với các xã hội nông nghiệp lục địa) (K. Hall 1985: 79). Thêm nữa, càng xa trung tâm, tính chất vương quyền kiểu Ấn Độ càng mờ dần, nhất là sâu trong nội địa bắc Sumatra, vùng miền núi nhiều vàng Minangkabau và thượng nguồn các sông Musi và Batang Hari. Có thể, K. Hall đã nhìn thấy điều này và mô tả nó như các lãnh thổ loại II, và bán đảo Malay-khu vực kiểm soát không thường xuyên như là lãnh thổ loại III của Srivijaya (K. Hall 1985: 79).

Srivijaya mang những nét tiêu biểu của một thực thể chính trị thuộc thế giới hải đảo Đông Nam Á chứ không đơn thuần là sự phản ánh các ý niệm vương quyền được vay mượn từ bên ngoài. Từ các tước hiệu cho đến hình thức tổ chức và cơ cấu vận hành phản ánh một phức hợp chính trị giữa các yếu tố Ấn Độ với cơ tầng chính trị truyền thống của thế giới Malay dưới tác động của các mạng lưới thương mại. Cơ cấu chính trị của Srivijaya đương nhiên phải phản ánh tính linh hoạt và cơ động vì bản thân nó chịu tác động trực tiếp từ cơ cấu kinh tế dựa trên trao đổi liên tục giữa các nhóm cư dân. Chính sự thương mại hóa các cộng đồng kinh tế trong thế giới Malay quyết định cách thức hoạt động của các trật tự trong hệ thống (dù là liên minh thương mại hay là dưới sức ép của một quyền lực chính trị). P. Wheatley (1961), Nik Hassan Shuhaimi bin Nik Abdul Rahman (1990), K. Hall (1985), H. Kulke (1993) đã cố gắng đưa ra các ví dụ được mô hình hóa về thể chế chính trị sơ kỳ ở bán đảo Malaya và quần đảo Indonesia. Nhưng các tư liệu ít ỏi mà chúng ta biết được, một vài tên gọi hay các nghi thức thần thánh được mô tả lại chưa chắc đảm bảo cho sự khôi phục đúng bộ máy nhà nước chứ chưa nói gì đến vạch ra được cơ cấu vận hành hợp lí của nó. Ý tưởng của K. Hall về một vương quốc Srivijaya tập quyền theo chế độ thủ lĩnh Malay truyền thống có vẻ lạc lõng trong bối cảnh quan điểm tản quyền của Wolters được chấp nhận rộng rãi, đặc biệt là từ sau hội nghị Canberra (1986). Tuy nhiên, rõ ràng là quan điểm của K. Hall có cơ sở cứ liệu vững chắc của nó, nhất là khi đặt Srivijaya trong khung cảnh các quan hệ chính trị và kinh tế của thế giới Malay.

Các mạng lưới trao đổi trong phạm vi đế quốc Srivijaya

Thật khó để có thể hiểu biết đúng đắn về thể chế Srivijaya nếu như không hiểu được cơ cấu các quan hệ kinh tế của vương quốc này mà trung tâm điểm là các mạng lưới thương mại. Các nghiên cứu về lịch sử kinh tế Đông Nam Á sơ kỳ đương nhiên đã không bỏ qua điều này (Van Leur 1955; J.N. Miksic 1979, 1985; Bennet Bronson 1977; K. Hall 1985, 1992; G. Wade 2006, L.Y. Andaya 2008), nhưng sẽ rất thú vị nếu như chúng ta đặt Srivijaya trong bối cảnh rộng lớn hơn của không gian kinh tế thế giới Malay. Theo đó, toàn cảnh kinh tế của Srivijaya là sự kết nối của hai mạng lưới: Hệ thống trao đổi ven sông và mạng lưới ven biển.

Không gian kinh tế ở Đông Nam Á hải đảo đưa lại những đặc điểm rất khác lạ so với khu vực lục địa, nơi mà các yếu tố của sự giao lưu đã trở thành một thuộc tính. Các học giả chuyên nghiên cứu về lịch sử kinh tế, thương mại Đông Nam Á cho đến thời tiền hiện đại như Van Leur, Wolters, Bennet Bronson, Solheim, K.Hall, A. Reid, Momoki Shiro, Ian Glover, P.Y. Manguin, J.W. Christie, J.N. Miksic, E. E. Mckinnon, Jacq-Hergoualc’H, Stephen Oppenheimer, Bellwood, B.W. Andaya, L.Y. Andaya… đã cố gắng định dạng các đặc trưng kinh tế Austronesia trong công trình của mình. Thực tế, ngoại trừ miền trung đảo Java và đông nam Sumatra (K. Hall 1985, 1992; J.W. Christie 1986: 65-94, J.G. de Casparis 1986: 49-64), phần lớn khu vực hải đảo Đông Nam Á không tồn tại mô hình sản xuất nông nghiệp đặc trưng và điều này ảnh hưởng đến cách thức vận hành các hệ thống kinh tế của Srivijaya. Bennet Bronson cho việc thiếu các đồng bằng và đất canh tác “không cho phép việc phát triển các xã hội nông dân thực thụ, nơi mà sự thịnh vượng gắn liền với các cộng đồng nông nghiệp đông đảo, làm thủy lợi, kiểm soát nhân khẩu còn thương mại ở vai trò thứ yếu” (B. Bronson 1977: 45; A. Reid 1999: 39-43; K. Hall 1985: 79-102, 1992: 196-202; J.N. Miksic 1979, E. E. Mckinnon 1984)

Nhân tố điều kiện tự nhiên và những truyền thống tộc người góp phần lớn vào việc định hình truyền thống kinh tế của cộng đồng Malay. Thay cho mô thức quan hệ trong xã hội nông dân ở vùng lục địa giữa các cộng đồng xóm làng, khu vực hải đảo nổi lên vai trò tương tác giữa cộng đồng Hinterlands/người miền núi, cao nguyên và Hinterseas/người trên biển, ven biển. Trong tiếng Malay đó là quan hệ giữa Bangka-hulu/bờ bên kia, những người từ biển đến và Bengkulu/phía bên kia của đảo (Dương Duy Bằng 2005: 46). Ở mức độ nhất định, điều này phản ánh sự phân công lao động và phân công vai trò kinh tế dựa theo các khu vực tự nhiên giữa nhóm người Biển/Sea Nomads và cộng đồng săn bắn trên vùng rừng núi (Rainforest Hunter-Gatherers) vì các hòn đảo phong phú về các hàng hóa đặc thù, chẳng hạn như gia vị, hương liệu và dược liệu không thể tìm thấy ở nơi nào khác. Ngoại trừ đông nam Sumatra và trung Java, các vùng đất còn lại chỉ màu mỡ với một đặc sản duy nhất và khô cằn với mọi sản phẩm khác. Do đó, loại đặc sản mà các đảo này tràn ngập phải lãnh nhiệm vụ cung cấp cho nó mọi sản phẩm khác từ các đảo và cộng đồng khác. Điều này giải thích tại sao các loại hàng hóa, thực phẩm khác thì có giá trị, còn sản phẩm của mình thì rẻ và cư dân các hòn đảo luôn bị ràng buộc trong việc duy trì sự giao thiệp liên tục với các nhóm người khác (Reid 1999, C. Sather 2006).  Lịch sử của các hoạt động trao đổi này có từ rất sớm, gắn với quá trình hình thành và mở rộng của người Austronesia (S. Oppenheimer 1999; Wilhelm 2006) cho đến tận thời kỳ gọi là “kỷ nguyên thương mại” (A. Reid 1988-1993).

Mặt khác, thế giới Malay Đông Nam Á nằm ở ngã tư đường giao thương, truyền thống hàng hải và truyền thống giao thương, giao lưu quốc tế đã gắn liền với đời sống của họ hàng nghìn năm, trở thành một phần trong truyền thống của họ. Khi những người Châu Âu đến đây vào thế kỷ XVI-XVII, ghi chép của họ đã phản ánh điều này. François Pyrard (1578-1623) nhà hàng hải Pháp năm 1619 mô tả: nguyên cả miền phản ánh một sự lệ thuộc/interdependence lẫn nhau đến nỗi các dân tộc này bị bó buộc phải duy trì sự giao tiếp liên tục với một dân tộc khác, nhóm dân này cung cấp những gì nhóm dân kia không có. Điều rõ ràng là các hải cảng trên bán đảo Malay, bắc Sumatra và quần đảo hương liệu Maluku (Ternate, Todore) hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào số gạo nhập cảng, việc mà chúng có thể dễ dàng trả tiền/ trao đổi thông qua hoạt động xuất cảng và mậu dịch (A. Reid 1999: 217-234, L.Y.Andaya 2008:2).

Với tư cách là đế quốc thương mại khu vực (VII-XIII), Srivijaya rõ ràng là đứng ở trung tâm của mạng lưới trao đổi của người Malay Đông Nam Á thông qua sự gắn kết các nhóm cư dân lục địa và hải đảo (Andaya 2008: chương 2. Sự hưng khởi của Malayu). Ngay từ khi đưa ra mô hình về hệ thống trao đổi ven sông, Bennet Bronson đã kỳ vọng nó sẽ giúp ích cho các nhà sử học và khảo cổ học có thể lí giải nhiều vấn đề của các thể chế ven biển Đông Nam Á, trong đó đặc biệt chú ý đến chức năng chính trị và kinh tế của mạng lưới này mà ở đó, sự liên hệ về kinh tế gắn liền với sự phụ thuộc và gắn kết về chính trị cũng như quy định cơ cấu vận hành của mạng lưới. (Bennet Bronson, 1977:39,44)[11]

srivijaya 4

A – là trung tâm tọa lạc ở vùng cửa sông

B và C – là các trung tâm cấp 2 và cấp 3 tọa lạc ở vùng thượng nguồn

D – là trung tâm xa nhất thuộc thượng nguồn, nơi thu thập đầu tiên các sản phẩm bản địa, cũng chính là đầu mối đầu tiên của mạng lưới thu gom hàng hóa đưa tới A.

E,F-Những người sản xuất/thu hoạch trực tiếp sản phẩm, cư trú phân tán trong tình trạng chưa hình thành thị trường mà các hàng hóa của họ có xu hướng được thu hút vào hệ thống của A

X – Thị trường chính bên ngoài, nơi tiêu thụ các sản phẩm chính xuất khẩu từ A và cung cấp chính cho các hàng hóa mà A nhập khẩu. (B. Bronson 1977:43).

Theo sơ đồ cấu trúc hệ thống trao đổi ven sông của Bronson, mỗi hệ thống trao đổi ven sông có một vùng duyên hải làm cơ sở cho một trung tâm thương mại thường tọa lạc ở cửa sông. Đây cũng là một trung tâm giao dịch hải thương quốc tế và là điểm kết nối với các cửa sông khác của các vùng lân cận. Cũng có những trung tâm ở thượng nguồn, là những điểm tập trung ban đầu của các nguồn hàng có nguồn gốc sản xuất ở những nơi xa sông nước. Những hàng hóa này được sản xuất ở những nơi không họp chợ, cư dân sống trong các làng bản vùng thượng du hay thượng nguồn. Sau đó, hàng hóa được tập kết về các trung tâm ven biển. Mỗi mandalas có một hệ thống trao đổi ven sông như vậy.

Duyên hải Sumatra và bán đảo Malay cung cấp nhiều con sông chảy từ vùng nội địa sâu xa giàu các sản phẩm lâm nghiệp và kim loại quý đổ xuống các vùng bờ biển với cảng sông-cảng biển. Mỗi con sông do đó hình thành một số khu định cư gần cửa sông với tham vọng biến thành trạm trung chuyển và thu gom hàng hóa của miền và đưa ngược trở lại các hàng hóa bên ngoài. Bên trên nó còn có các cộng đồng rải rác dọc sông nhánh hay bám lấy các thung lũng và sông suối (xem bản đồ các hệ thống sông ở Sumatra). Vì thế, mạng lưới thương mại của Srivijaya phụ thuộc rất chặt chẽ vào các cộng đồng này.

srivijaya 6

Các hệ thống sông ở Sumatra (J.N.Miksic 1985)

Vùng đất ban đầu của Srivijaya là khu vực Bukit Seguntang và Sabokingking, (Palembang), nơi mà quyền lực và sự thịnh vượng của nó không gì hơn là sự kết nối với vùng thượng nguồn sông Musi giàu có vàng, gỗ, nhựa thông, gia vị và kiểm soát Malayu phía bắc với nguồn vàng Minangkabau (Munoz 2006:117). Palembang trở thành điểm tập kết quan trọng khi các con thuyền 100 tấn có thể ngược dòng sông 90 km vào bất cứ mùa nào trong năm, còn các thuyền từ 5 đến 20 tấn có thể ngược dòng đến 270 km tới Muara Kelingi. Trong khi, các thuyền 20 tấn có thể ngược sông Batanghari 300 km trong mùa khô và theo nhiều nhánh sông khác nhau: Tembesi, Bungo, Tebo (Miksic 1985:429). Các khu vực khác phía đông cũng có những mạng lưới tương tự để kết nối với nội địa như cảng Gunung Sugih và Rengat. Dọc theo bán đảo Malay cũng có những hệ thống tương tự gắn liền với các hệ thống của các vương quốc cảng thị city-States. Vai trò của các hệ thống ven sông này quan trọng đến nỗi chính nó quyết định sự hình thành, khuynh hướng mở rộng, bành trướng, cũng như chính sách phát triển, mở rộng của chính quyền Palembang.

Srivijaya đóng vai trò kết nối các mạng lưới liên vùng và nhiều nhóm người Malay khác nhau trên khu vực bán đảo Malaya và quần đảo Indonesia. Điều đó có nghĩa là các mạng lưới ven sông được kết nối ở phạm vi rộng lớn đề tạo thành một mạng lưới biển hoàn hảo mà Srivijaya đóng vai trò như một đế chế biển/đế chế đảo (D.G.E. Hall 1956). Nhờ đó mà Srivijaya làm chủ được một khu vực giàu tài nguyên và các sản phẩm quý: hương liệu, gia vị… cung cấp cho Ấn Độ, Trung Hoa, trở thành một chủ thể của con đường tơ lụa trên biển và góp phần vào “kỷ nguyên sớm của thương mại Đông Nam Á” (G.Wade 2006). Bản đồ dưới đây về các mạng lưới ven biển của Srivijaya sẽ cho thấy vị trí trung tâm của vương quốc này nhằm kiểm soát và tiến đến độc quyền các hàng hóa của khu vực quần đảo. Đế quốc Srivijaya đã sử dụng sức mạnh hải quân để bắt các cảnh thị phục tùng, giành lấy độc quyền buôn bán hàng hóa, thu thuế và quan trọng hơn là có được nguồn cung để đưa đến thị trường khổng lồ Trung Hoa. Mối quan hệ giúp duy trì sự thịnh vượng của nó trong nhiều thế kỷ.

sritijaya 5

Mạng lưới này không chỉ thu hút tập hợp hàng hóa mà còn đóng vai trò tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ và nhằm huy động nhân lực cho các hoạt động quân sự của đế quốc. Tấm bia nổi tiếng Keducan Bukit có nói đến các lực lượng quân sự khác nhau bộ binh và thủy binh cùng tham gia cuộc viễn chinh mà K. Hall cho rằng điều này phản ánh sự liên minh do Srivijaya tổ chức giữa các nhóm người Biển và người nội địa còn Wolters thì cho rằng chính các nhóm người Biển là cơ sở đưa lại sức mạnh và sự dũng cảm, thiện chiến trên biển cho Srivijaya, điều đã được những người Trung Hoa đương thời mô tả và các tài liệu dân tộc, ngôn ngữ học khẳng định, đặc biệt là người Orang Laut cư trú ở quần đảo Riau, cửa ngõ vào eo Melaka (Wolter 1967; Sather 2006; Solheim 2006; Andaya 2008; Nguyễn Văn Kim 2008; Ngô Văn Doanh 2009).

Kết luận

Tiếp cận lịch sử Srivijaya như một thể chế thương mại trong khu vực hàng hải Malay Đông Nam Á chính là cách thức để làm sáng rõ những hiểu biết của chúng ta về vương quốc vẫn còn nhiều ẩn dấu trong lịch sử Đông Nam Á. Vương quốc này nắm giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ khu vực, liên khu vực cũng như đóng vai trò hạt nhân của mạng lưới trao đổi thương mại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII qua các eo biển của khu vực mà qua đó góp phần truyền bá tôn giáo, nghệ thuật, thiết lập các mối tương tác khu vực, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại.

Srivijaya được tiếp cận trên khung cảnh của một tiểu vùng thương mại biển thuộc thế giới Malay Đông Nam Á, có thể coi là một “case study” điển hình trong chủ đề này và cách thức tiếp cận khu vực học ở đây hy vọng sẽ giúp vạch ra những đường ranh giới cần thiết về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ nhân chủng cho các phân vùng/tiểu vùng nghiên cứu Đông Nam Á. Từ đó, có thể giúp các nhà nghiên cứu tăng thêm tính định hướng khi lựa chọn phương pháp, cách tiếp cận và lí thuyết nghiên cứu phù hợp cho mỗi vùng và phân vùng.

THAM KHẢO

Andaya B.W and Andaya., L.Y
1983 A History of Malaysia. Macmillan Asian History Series
Andaya., L.Y
2008 Leaves of the same tree: Trade and Ethnicity in the Straists of Melaka. University of Hawai’i Press. Honolulu
Dương Duy Bằng
2005 Đông Dương một đầu mối giao thương. Nghiên cứu Đông Nam Á số 4/2005
Coedes., G
1968/2008 The Indianized States of Southeast Asias. Honolulu: University Press of Hawai’i, bản tiếng Việt, NXB Thế giới 2008
Ngô Văn Doanh
2009 Mandala Srivijaya. Nghiên cứu Đông Nam Á số 2/2009
Christie, C.J
1996 A Modern History of Southeast Asia: Decolonization, Nationalism and Separatism. Tauris Academic Studies
Bellwood, Peter
1997 Prehistory of the Indo-Malaysian Archipelago. University of Hawai’i Press. Honolulu
2004  The Origins and Dispersals of Agricultural Communities in Southeast Asia’, in Glover and Bellwood (eds), Southeast Asia, 21–40
Bellwood., Peter, James J. Fox, Darrell Tryon
2006 The Austronesians: Historical and Comparative Perpectives. ANU Press
Peter Bellwood and Eusebio Dizon.
2008 “Austronesian cultural origins: Out of Taiwan, via the Bantanes Islands, and onwards to Western Polynesia”, in “Past Human Migrations in East Asia: Matching archaeology, linguistics and genetics”, edited by Alica Sanchez-Mazas, Roger Blench, Malcolm D. Ross, IIlia Peiros and Marie Lin. Routledge Studies in the Early History of Asia, Routledge 2008. P. 23-39
 Bronson. B
1977 Exchange at the Upstream and Downstream Ends: Notes toward a Functional Model of the Coastal State in Southeast Asia, in “Economic exchange and social interaction in Southeast Asia: Perspectives from Prehistory, History. And Ethnography”, ed. by Karl L. Hutterer. Center for South and Southeast Asia Studies, The University of Michigan, 1977, Michigan papers on South and Souteheast Asia, 13, p. 39-52
Dellios., Rosita
2003 Mandalas from the Sacred origins to sovereign affairs in traditional Southeast Asia. Center for East-West Cultural and Economic Studies-CEWCES Research Paper, 2003, Bond University
Hall.,D.G.E
1955 A History of South-east Asia. London: Macmillan, Bản dịch Tiếng Việt 1997, Nxb CTQG
Hall., Kenneth R.
1985 Maritime trade and State development of Early Southeast Asia. Hawaii University
1992 Economic History of early Southeast Asia, in CHSEA, Vol 1, eds by Nicholas Tarling. Cambridge University Press
J.Kathirithamby-Wells and John Villiers
1990 Southeast Asian Port and polity: Rise and Demise. NUS Press
Nguyễn Văn Kim
2008 Thể chế biển Srivijaya. Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2008
Kulke. H
1986 The early and Emperial kingdom in Southeast Asian History, in Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, (ed) by David G. Marr and A.C.Milner, Research School of Pacific Studies and Australian National University, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore
1993 “Kadtuan Srivijaya” – Empire or Kraton of Srivijaya? A Reassessment of the Epigraphical Evidence. BEFO, Volume 80, Numéro 1, p. 159-180
Michel Jacq-Hergoualc’H
2002 The Malay Peninsula: Crossroads of the Maritime Silk Road (100 BC-1300 AD). Brill
Lieberman., Victor
2003 Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830. Volume 1: Integration on the Mainland. Cambridge University Press
2009. Strange Parallels – Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830. Volume 2: Mainland Mirros: Europe, Japan, China, South Asia, and the Islands. Cambridge University Press
Lương Ninh
1998 Lịch sử, văn hóa, vùng trong viễn cảnh Đông Nam Á. Nghiên cứu Lịch sử số 1/1998
2008 Nam Á và Nam Đảo: Suy ngẫm và thảo luận. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9/2008
McKinnon., Edwards. E
1984 Kota Cina: Its Contexts and Meaning in the Trade of Southeast Asia in the Twelfth to Fourteenth Centuries. PhD dissertation, Cornell University
Manguin., P.Y
1985 The Introduction of Islam in Champa., JMBRAS, 1985, LVIII. pp. 1-28
Miksic J.N.
1979 “Archaeology, Trade and Society in Northeast Sumatra.” Unpublished Ph.D. thesis submitted at Cornell University
1985 Traditional Sumatran Trade. Bulletin de I’Ecole francaise d’Extrême-Orient, Année 1985, Volume 74, Numéro 1, p.423-467
Milner., Anthony
2008 The Malays. Wiley-Blackwell, 2008
Munoz., P.M
2006 Early Kingdoms of the Indonesian Archipelago and the Malay Peninsula. Editions Didier Millet
Nik Hassan Shuhaimi bin Nik Abdul Rahman
1990 The kingdom of Srivijaya as Socio-Political and Cultural Entity, In J. Kathirithamby-Wells and John Villiers (ed), Southeast Asian Port and Polity: Rise and Demise. NUS Press
Reid., A
1999 Charting the Shape of Early Modern Southeast Asia. Silkworm books.
Sather., Clifford
2006 Sea Nomadics and Rainforest Hunter-Gatherers: Foraging Adatations in the Indo-Malaysian Archipelago, in The Austronesians: Historical and Perspectives. ANU press
Shaffer., Lynda Norene
1996 Maritime Southeast Asia to 1500. London: ME Sharpe Armonk, 1996
Solheim, Wilhelm G., David Bulbeck, Ambika Flavel
2006 Archaeology and Culture in Southeast Asia: Unraveling the Nusantao. Diliman, Quezon City: University of the Philippines Press
Hoàng Anh Tuấn
2008 Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9-10/2008, tr. 1-16
Thongchai Winichakul
1994 Siam Mapped: A History of the Geo-body of a Nation. Honolulu: University of Hawaii Press
Van Leur, J.C.
1955 Indonesian Trade and Society: Essays in Asian Social and Economic. History. (The Hague and Bandung, 1955)
Vickery., Michael
2005 Champa Revised. ARI Working Paper, No.37
Wade.,Geoff
1993 On the Possible Cham Origin of the Philippine Scripts, JSEAS, Vol. 24, 1993 pp. 44-87
2006 “An Earlier Age of Commerce in Southeast Asia: 900-1300 C.E.?”, Workshop on Dynamic Rimlands and Open Heartlands: Maritime Asia as a Site of Interactions (Conference Proceeding), Osaka University and National University of Singapore, 2006, pp. 27-81.
Wheatley., Paul
1961 The Golden Khersonese: Studies in the historical geography of the Malay Penninsula before A.D. 1500. Kuala Lumpur: University of Malaya Press
Wolters, Oliver.W
1967 Early Indonesian Commerce: A Study of the Origins of Srivijaya. Cornell
1986 Restudying Some Chinese Writings on Sriwijaya. Indonesia Vol. 42, Cornell University
1982/1999 History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives. Singapore

[2] Xem thêm về nghiên cứu so sánh gần đây của GS. Victor Lieberman (University of Michigan) đề cập đến cách thức tiếp cận đối với lịch sử Đông Nam Á lục địa (vol 1) và hải đảo (vol 2) trong bối cảnh phát triển của lục địa Á-Âu từ 800 đến 1830 (2003/2009).

[3] Xem Hoàng Anh Tuấn. Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9-10/2008, tr. 1-16 ; Các tác giả. Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á, thế kỉ XVI-XVII, Nxb. Thế Giới, H., 2007

[4] Về lí thuyết nghiên cứu liên ngành và khu vực học trong các ngành KHXH&NV, xin tham khảo nội dung của hội nghị “Nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn: kinh nghiệm và triển vọng”, do trường ĐHKHXHNV phối hợp với các trường đại học Pháp là Đại học Nantes, Đại học Le Mans, Đại học Angers tổ chức tại Hà Nội 12/2009.

[5] Charles Wheeler, University of California, Irvine, A Maritime Logic in Vietnamese History? Littoral Society in Hội An‘s Trading World c. 1550-1830, Conference proceedings.

http: http://www.historycooperative.org/proceedings/seascapes/wheeler.html

Momoki Shiro, “Đại Việt and the South China Sea Trade, from the 10th to the 15th Century”, Crossroads 12, 1 (1998): 1-34; Li Tana, Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the seventeenth and eighteenth Centuries (Ithaca: Cornell University Southeast Asia Program, 1998); Charles Wheeler, “Cross-cultural Trade and Trans-regional Networks in the Port of Hội An: Maritime Vietnam in the Early Modern Era” (Ph.D Dissertation, Yale University, 2001); Charles Wheeler, Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận-Quảng, Seventeenth-Eighteenth Centuries, Journal of Southeast Asian Studies, 37.1 (Feb. 2006), p. 123-154 ; John K. Whitmore, The Rise of the Coast: Trade, State and Culture in Early Đai Viet, Journal of Southeast Asia Studies, 37.1 (Feb. 2006), p. 103-123 ; Li Tana, A View From The Sea: Perspectives On The Northern And Central Vietnamese Coast, Journal of Southeast Asian Studies, 37.1 (Feb. 2006), p. 83-102

[6] Xem thêm Peter Bellwood. Man’s Conquest of the Pacific.

[7] Về các nghiên cứu gần đây liên quan đến ngữ hệ Austronesia nhất nhất là sau Hội nghị quốc tế năm 1985 (Manila), xin xem các nghiên cứu của Lương Ninh, Peter Bellwood, W. Solheim, R. Blust, W. Meacham, Jared Diamond, S. Oppenheimer…

[8] Mandalas phác họa mô hình chính trị của Đông Nam Á sơ kỳ được Wolters đưa ra đầu tiên năm 1982. Theo Wolters, mandala dùng để chỉ tình trạng chính trị riêng biệt và thường không bền vững, trên phạm vi địa lý xác định một cách mơ hồ, không có biên giới định rõ, trong đó, các trung tâm nhỏ có xu hướng tìm sự an toàn ở khắp mọi hướng. Mỗi mandala gồm một số tiểu thủ lĩnh phụ thuộc. một số có thể từ bỏ quy tắc phụ thuộc khi có thời cơ và cố gắng tạo lập một hệ thống của mình. Chỉ có Mandala tôn chủ mới có quyền nhận cống nạp và cử đại diện của mình để thể hiện vị trí tôn chủ bề trên (Wolters 1982: 17, xem thêm Rosita Dellios 2003, Lương Ninh 1998).

[9] Trong cuộc nói chuyện giữa chúng tôi với GS Tony Reid tại ARI, NUS, Singapore (7/7/2010), ông bày tỏ quan điểm không tán đồng việc sử dụng khái niệm “đế quốc” cho Phù Nam, Srivijaya hay bất cứ thể chế Đông Nam Á nào thời kỳ tiền thuộc địa vì các lí do tôn giáo, thương mại và quan hệ họ hàng hơn là quyền lực chính trị và quân sự: “My objection to the term in pre-colonial SE Asian history is that it too readily implies power, of a territorial and even bureaucratcic kind, when all we really know is that there are networks of trade and distribution. My own reading of SE Asian history is that power was seldom bureaucratised (Vietnam being the nearest to an exception). Religious, commercial and kinship networks and reciprocities appear to have achieved more than military/bureaucratic power” (A. Reid).

[10] “Tất cả các người, con trai của các vị vua, các thủ lĩnh, các tướng quân, quan lại tâm phúc của các vị vua, quan tòa, quan giám sát, quan thanh tra các đẳng cấp thấp, thư lại, thợ điêu khắc, thuyền trưởng, thương nhân… nô lệ của nhà vua, tất cả các người sẽ bị giết bởi tai họa của lời nguyền này. Nếu các người không trung thành với ta, các người sẽ bị giết chết bởi lời nguyền. Tuy nhiên, nếu các người ngoan ngoãn, trung thành và thẳng thắn với ta, không xâm phạm tội ác, các người sẽ nhận được sự đền ơn của ta. Các người cùng với vợ, con sẽ được sống trong hòa bình, được hưởng thành quả từ những gì các người uống”. Tấm bia ghi lại lời nguyền được đọc trong hội thề nước. Các thủ lĩnh địa phương, quan lại phải đổ nước lên hòn đá có khắc hình rắn Naga 7 đầu (Tượng trưng cho uy quyền của nhà vua) rồi lấy nước đó uống.  (P. M. Munoz 2006:124)

[11] Trong xu hướng tiếp cận khảo cổ học, nhân chủng, dân tộc và ngôn ngữ những năm gần đây, đáng chú ý là loạt công trình “The Peoples of Southeast-East Asia and the Pacific” do Peter Bellwood và Ian Glover chủ biên, có thể kể ra đây: The People of Bali của Angela Hobart, Urs Ramseyer và Albert Leeman; “The Peoples of Borneo” của Victor T. King; “The Lapita People” của Patrick Kirch, “The Khmer” của I. W. Mabbett và David Chanlder, “The Bugis” của Christian Pelras, “The Island Melanesia” của Matthew Spriggs, “The Malays” của Anthony Milner (2008) hoặc “The Austronesians: Historical and Perspectives” do Peter Bellwood, James J. Fox và Darrell Tryon biên tập (NUS, 2006)

[Vu Duc Liem, Tiếp cận khu vực học trong nghiên cứu Lịch sử Đông Nam Á truyền thống: Trường hợp Srivijaya, Nghiên cứu Đông Nam Á, Vol. 9 (138), 2011, pp. 26-37]

RAMA III, MINH MẠNG AND POWER PARADIGM IN EARLY NINETEENTH CENTURY MEKONG VALLEY

Vu Duc Liem[1]

This article published on Rian Thai 5/2012, Chulalongkorn University, Bangkok

Abstract

This article explores the way early modern state-making conquered the space of the Mekong valley. The main aim of the article is to re-construct the transformation of the political landscape in the region through the impact of Siamese and Vietnamese centralized expansion in the time of Rama III and Minh Mạng. I shall take the increasing body of geographies of knowledge and extending infrastructure of state-building as my point of departure to unfold the move of new politico-economic institution into this complex terrain and autonomous marginal space. I argue that the Mekong basin of the eighteenth century margins and ambiguous political identification was administratively turned into “territory” of the early nineteenth century centralized state. As a result, the state-making project fundamentally transformed the political structure of the region. Unlike in the eighteenth century when the state moved toward people and economic centers, early nineteenth century witnessed various forms by which people voluntarily, or were forced, to move along with state establishment. Centers had been mapped and the state administrative network paved the way for reorganizing the political structure of the region, paralleled by both Siamese and Vietnamese nation-building. By looking at the Siamese and Vietnamese expansion along the Mekong basin, not from the perspective of confrontation, but in the context of power transformation throughout the basin, a convergence between them can be drawn: that is, the extensive expansion of the state into mountains, hills, and swamps by creating canals, routes, military fortresses and by collecting immigrants at the frontier to set up settlements and administrative networks. The state conquest into the periphery and semi-periphery was in a larger scale than ever before and created a fundamental transformation from the “periphery” into the “geobody” of the central state.

rian Thai_dai nam toan do_A 2959

Map of Vietnam and the Mekong Valley

Dai Nam Toan Do, EFEO Microfilm, A 2959

 Introduction

Kep pak sai sa, kep kha sai muang

Put vegetables in the basket, put people in the muang

—Thai proverb

This article explores the early form of state-making projects in the Mekong valley before national space had been constructed or the national geography, overwhelmingly shaped by our production of knowledge and national borders, dominated our conceptualization of the Mekong valley. Politically speaking, scholarship on the early nineteenth century Mekong region tries to draw a relationship between Siam and Đại Nam from a very modern Thai and Vietnamese perspective. Regular convention deals with political confrontation, economic competition, and religious expansion as driving forces. This article will not look at Siam and Đại Nam from that antagonistic perspective, but bring them together into the political space of the Mekong valley, arguing that during the time of Rama III (1824-1851) and Minh Mạng (1820-1841), the river basin shared the same theme of political transformation in which early modern state-making, using the power of geography and cartography to move beyond complex terrains, conquered and reorganized the space with state infrastructure. The phenomenon partly took shape within the modern contours of mainland Southeast Asia at the edge of colonialism.

Research in the last decades has detailed the economic integrity of the Mekong valley during early modern history. Several economic networks stretched from the northern mainland to the Lower Mekong River delta in the south.[2] This economic landscape of the nineteenth century mainland, however, poses the question of reconstructing the dialectical correlation with the political landscape in which such economic interaction was generated. By sharpening the tools of historical analysis, it can be seen that there is a convergence of view of scholarship relating to the political history of mainland Southeast Asia in premodern time, either from an outside perspective or by localization agency. The dominant feature is that such a pattern of political structure is still overwhelmingly captured by a very traditional perspective, particularly relating to the narrative of Siam and Vietnam. Conventional models of politics and power under the influence of religious philosophy, notably the Buddhist cakkavatin and the Sino-Vietnamese tributary system, nonetheless, seem not to show a strong comprehensive justification for either the scale of political development in the early nineteenth century, or power organization in shaping geopolitics in the Mekong space before French Indochina.

As a result, scholarship on the Mekong valley regularly acknowledges a contrast between the political ideology of the Theravada kingdom of Siam, on the one hand, and the Sinicized Vietnam, on the other. Differences of diplomatic worldview, economic ambition, and political expansion are described as de facto motors of Rama III and Minh Mạng’s foreign policy toward the Mekong basin. Sunait Chutintaranond has conducted extensive research on premodern Siamese-Burmese warfare, in general, and on the idea of cakravartin, in particular. He points out that the cakravartin concept functioned as an ideological motivation of Siamese and Burmese kings in traditional warfare. In reality, the kings created within their imaginary Jambudipa the realm of their own mandala or “field of power”, in which they contended to become the most powerful Buddhist king. However, their mandala never overlapped until the first half of the sixteenth century after the old Mon kingdom was totally incorporated as part of the Burmese political domain and after the interior capital, Toungoo, was abandoned and replaced by Pegu, which also wanted to control the trans-peninsular traffic with the Gulf of Siam.[3] In the cases of Thai-Lao and Thai-Khmer relations, sometimes the recognition is not limited within the context of mandala or tributary relations. The Thai-Lao close kinship and the protection of Buddhism against Vietnamese destruction in Cambodia sometimes were used by Bangkok to justify the presence of Siamese power in the Mekong valley.[4] Early nineteenth century Vietnamese narratives, on other hand, describe the westward movement under the characteristics of “mission civilisatrice”. A Hue official explained the Vietnamese campaign in Cambodia, stating:

…from the creation of the earth onwards, only now has our Southern Country become extensive, something our dynasty has achieved beneath the southern skies. The land of Cao Man (Cambodia) is not broken up by mountains and unhealthy air; it is flat and fertile, flourishing and rich, located to the west of our country, and bordered by our Lục Tỉnh (southern Vietnam). All this [occurs] because Heaven cannot bear that it should be a barbarian desert. Now that our country is changing things in a significant way and registering [Khmer] households, the day of transforming old customs into Hoa [civilization/Vietnamese] has come.[5]

However, the political landscape of the early nineteenth century Mekong presents a considerable level of state expansion in which such explanations are in need of more illustration. The “field of power”, especially during the time of Rama III and Minh Mạng, was extended to the marginal zone of the Mekong basin. State administration crossed swamps and climbed mountains. In this context, the gap of knowledge between our understanding economic nature and political landscape challenges the comprehensive view of the Mekong as a united economic and political subject. The early nineteenth century is also critical. Ruling on the eve of colonialism in the mainland, Rama III and Minh Mạng are conventionally acknowledged as the last and great traditional kings of Siam and Đại Nam. Therefore, a clear frontier between “old Siam” and “new Siam”, “traditional Vietnam” and “colonial Vietnam” has been significantly recognized by the introduction of the Bowring Treaty (1851) and French Invasion of Cochinchina (1858). However, it is likely that their time should be better considered in the context of transition rather than merely belonging to the traditional framework. By shifting this angle of vision, it is hoped scholarly understanding of change in the mainland, from premodern to early modern history, can be enriched. This transition has been neglected or has been unable to be presented in early modern scholarship on the mainland mainly because of the usage of a traditional theoretical framework. This old perspective has been found incapable of paving a new way to understand internal change as a result of economic emergence and colonial threat.

The significance of those suggestions is that they encourage scholarship to go beyond colonial and national historiographies and present a new way to think of Siam and Đại Nam in the perspective of political transition, as well as to deal with Siamese-Vietnamese interaction in the context of two parallel projects of state-building. This approach is expected to shed light upon a wide range of political events in the early modern Mekong valley, for which concepts and patterns of traditional Southern Asian politics are unlikely to cover.[6] By examining the way early modern state-making conquered the space of the Mekong valley, the main aim is to re-construct the transformation of the political landscape in the region through the impact of Siamese and Vietnamese centralized expansion in the time of Rama III and Minh Mạng. I take the increasing body of geographies of knowledge and extending infrastructure of state-building as a point of departure to unfold the move of the new politico-economic institution into this complex terrain and autonomous marginal space. The argument is that the Mekong basin of the eighteenth century margins and ambiguous political identification was administratively turned into “territory” of the early nineteenth century centralized state. As a result, this state-making project fundamentally transformed the political structure of the region by introducing state infrastructure, facility, and institution; by recognizing space and reconstructing geopolitics; and by setting common political standardization, territorialization, and even a lingua franca within the new domain. The state conquest into the frontier of the Mekong valley was in a larger scale than ever before and posed tremendous transformation from the “periphery” into the “geobody” of the central state.

 

Structure of Power in the Premodern Mekong Valley

The power paradigm in premodern history is among the main conventions of scholarship on the mainland by which each historiography tries to portray a model of intra-and inter-political relations in shaping state and society. However, it is challenging to mark a chronological category of political change based upon the structure of power organization. The core of such debate not only lies in various types of administrative organization, but also the way the state organizes space geopolitically. Therefore, “Indianized states”, “Galactic polities”, “mandala”, “circles of kings”, and Chinese model of vassal states reflect diverse power paradigms in the way the state manages different groups at different spatial layers. Narratives on “old” Thailand are currently overwhelmingly marked by the theory of mandala, which say that the Thai polity of Ayutthaya and smaller principalities assumed features of Angkorian-style kingship. In spite of a gradually emerging centralized establishment, Ayutthaya was never fully in any form of coherent politics, given alternate rule by different families. A fundamental change in terms of political organization only came with the introduction of the Chakri family who were “able to convert a somewhat loosely organized mandala into a state where the component parts were much more responsive to the center.”[7]

A model with a multi-political center can be practically linked with the ban-muang political system which is universally accepted among the Tai-speaking world and upland Vietnam in the premodern time.[8] If one looks at the Mekong valley from this perspective, it is intriguing to describe the whole region as a “field of power” with the existence of diverse political centers and in-homogeneous power relationships. Centers of the “field” were consistently shifting among Angkor, Lanna, Sukhothai, LanXang, Ayutthaya, Thonburi, Hanoi, Hue, and Sai Gon. Although many of these centers did not directly connect with the Mekong River, they were significantly engaged within the political influence of the Mekong space. When the Vietnamese went southward along the coast, and the Thai went down the Chao Phraya River, the imperial historiography of Hue and Bangkok narrated Laos and Cambodia as fragmentary histories or sub-histories of their main stream.[9]

The changing power network in the Mekong came about as the Siamese and Vietnamese started recognizing the region and showing their increasing interest toward the hills and mountains. While there used to be great civilizations and powers along the Mekong, namely Angkor and LanXang, when the Siamese and Vietnamese came to power by the late eighteenth century, they faced no significant challenge in dealing with local powers which were in division and de-centralized. Between the sixteenth and eighteenth century, overlapping influential zones between Siam and Nguyen Cochinchina were significantly expanded into Cambodia and Laos, particularly to the economic and population centers. The expansion was widely conducted by military expedition to control manpower, trade and fertile land for agricultural cultivation. The Vietnamese continuously moved southward and finally annexed Champa, as well as the Lower Mekong Delta which was very ambiguously dependent on either the Khmer king’s patronage, Nguyen Lord in Cochinchina or Chinese autonomous coastal communities. This political landscape suggests that the paradigm of power in the mainland was in a period of transition from the classic mandala system into more centralized kingdoms of the premodern era.

 

Early Nineteenth Century Mekong Valley: Geographies of Knowledge

Mapping, cartography and political philosophy accompany political evolution in world history. “Maps blossom in the springtime of the state,”[10] and the state uses power of cartography to conquer new space in expanding its establishment. Geographical knowledge was undoubtedly the departure point for designing the politics of space in both Siam and Đại Nam and for constructing their structure of power in the Mekong basin.[11] It is worth noting that Rama III and Minh Mạng significantly started to bring this body of knowledge into their project of political management.

Prior to the second half of the 18th century, most parts of the Mekong valley maintained uncertain and ambiguous political identity among rising states, especially muang Laos in the central and the “water world” of swamps in the lower part. Those areas were long considered as at the margins of the three great kingdoms of Siam, Đại Nam and Burma and usually invisible with respect to political concerns. However, a study of the late eighteenth century shows significant attention was paid to the region because of the expansion of centralization. Collecting geographical data became crucial for the Nguyen, Thonburi and Bangkok dynasties because all the successful campaigns they made came from the periphery to capture the center. Therefore, they present a unique perspective for the need to incorporate the margins under state control as an equally important administrative and territorial unit. Nguyễn Ánh (Ong Chiang Su) played an active military and political role in the region for twenty-five years. Taksin built his network in Chanthaburi and then tried to annex both Phnom Penh and Hà Tiên. Rama I and his younger brother engaged in military campaigns in the Lower Mekong for decades before coming to the throne. As strong and ambitious successors, Rama III and Minh Mạng had all those legacies of knowledge and interest toward the Mekong basin.

In fact, both Bangkok and Hue were fully aware of how to use geography to manage their vast territory in which many parts were only recently incorporated. Geographical records and maps were created in large numbers during the time of Gia Long and Minh Mạng, covering both Vietnam and its neighbours, including Gia Định Thành Thông Chí (Gia Dinh Gazetteer), Đại Nam Nhất Thống Chí (Geography of United Đại Nam), Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí (Geography of the Viet Kingdom), Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (Accounts on the institutions of successive dynasties), Xiêm La Quốc Lộ Trình Tạp Lục (Record of the Siamese Routes), and Hải Trình Chí Lược (A Maritime Record), Trấn Tây Phong Thổ Ký (The Custom of Cambodia).[12] Nineteenth century Vietnamese cartography also made significant progress, especially with respect to information about the Mekong region. One example among those is Đại Man Quốc Đồ (Map of the Great Barbarian Kingdoms) drawn in the western Vietnamese mountain province of Hưng Hóa. The “countries” concerned are an overview of the Tai world to the west of Vietnam, stretching from the mountains in the northern Tonkin to the Gulf of Siam in the south. The map is full of muang and trinh (Chiang/Xieng). At the center of the map is the Southern Barbarian country capital (perhaps Ayutthaya).[13] The cartographic integration of Vietnam and the adoption of Western style cartography were significant in reconfiguring the geopolitical surface of Vietnam and the Mekong basin. The significance of the maps, for the first time, not only shows Viet’s image of a united geography along the eastern mainland, but also integration within the regional landscape. A collection of maps from 1838-1839, named Đại Nam Toàn Đồ (Comprehensive Maps of Đại Nam), show a profound understanding of the region by the Vietnamese. In some cases, maps drawn in European style describe the entire country of Đại Nam with the Mekong River system and the Great Lake in Cambodia. Other maps include areas of southern Laos and eastern Cambodia as the “thirty-second province” of Đại Nam. [14]

Royal Siamese maps created during the first three reigns of the Rattanakosin era are not less significant than those of contemporary Vietnam. Most recently, in 1996, seventeen exquisite hand-drawn and hand-coloured maps were discovered in the Grand Palace, Bangkok. Those long-lost treasures cartographically record Siamese warfare and trade between 1782 and 1851. Focusing on Siam and on her immediate neighbours, the collection also includes a remarkable four-metre coastal map extending from peninsular Malaysia to Korea. Among these are maps of muang Thalang, muang Lakhon/Ko Mak/Thalang-Sai (peninsular Siam, Saiburi, Penang), muang Thawai (Kanchanaburi, Suphanburi, Tak & Ava peninsula), muang Phrataphang (Mekong River Delta), Khmen Nai Ni (Lower northeast Siam to Upper Cambodia), muang Ubon/ Phnom Penh, muang Nakhon Si Thammarat, Phra Akkhanaesorn (the whole Cambodia), Angwa/Attapue (Southern Laos), muang Nakhon Si Thammarat (peninsular Siam and island Southeast Asia).[15] These maps describe a remarkable understanding of mainland Southeast Asia by the Siamese, in general, and the Mekong River Valley, in particular, the area which became the main surface of confrontation between Siam and Đại Nam. Some maps on southern Vietnam and Cambodia even show villages and estuaries in detail, with the local communities and ethnicities. It is possible that other maps were likely specially created for military and administrative purposes, particular those of the area along the Mekong River from Vientiane to Phnom Penh which was considered strategic for Bangkok.[16]

The increasing body of knowledge about the Mekong River is used as a starting point for designing the new geopolitics in both Siam and Đại Nam. Maps and geographical reports significantly assisted the Thai and Vietnamese in recognizing places and defining its political status. Map-making with active support of the military and economic establishment helped to demarcate the influential zone between Siam and Đại Nam over this complex terrain. Cartography also contributed to the drastic change in the way the rulers in the mainland came to acknowledge “land” as a source of economic dynamism. The increased focus on “territory” was a significant new trait of the political phenomenon in Siam and Đại Nam. Vietnamese scholar, Phan Huy Chu, stated in 1820 that “of the national treasure, nothing can compare with land from which generates people and prosperity.”[17] A few years later, one of the Minh Mạng’s official reported to the Hue court stated, “[In Cambodia] Land is fertile and abundant here and population is scarce. Only 30–40 percent of the land is under cultivation, mainly for cotton and betel nut and a little rice. Merchants come here to trade for local products and make big profits.”[18] The king himself also talked about the land a thousand miles from his capital:

[In Cambodia] I have heard that, for example, the land is plentiful and fertile, and that there are plenty of oxen [for plowing] … but the people have no knowledge of [advance] agriculture, using picks and hoes, rather than oxen. They grow enough rice for two meals a day, but they do not store any surplus. Daily necessities like cloth, silk, ducks and pork are very expensive.[19]

 

Geography and cartography are de facto effective companions of state-making. By putting on maps zones of ambiguous political nature, they generate a new understanding of geopolitics and allow the state to work out strategies to control the space. The consciousness of power therefore became more authentic and was easily applied over a vast territory. If the administrative function of previous political institutions was limited and mainly focused on seeking taxes, manpower, and military campaign, the power of geography enabled the state to establish a more permanent, complicated system with more effective management.

 

The Nineteenth Century Mekong: A Space of Early State-making    

In this part, I will explore the transformation of the Mekong landscape under the project of early modern state-making. When each of the kingdoms of Siam, Burma and Đại Nam had become united the expansion of those centralized kingdoms reached to the last margins, frontier, and periphery of the mainland, mostly the complex terrain along the Mekong River. The Khmer and Lao principalities retained relative freedom from the outside hegemony until a new Siam emerged from the ashes of Ayutthaya, and Vietnam was united in 1802. The new political environment witnessed that, “for the first time, virtually the entire mainland, including upland valleys, was effectively divided among lowland-based empires, so the Burmese, Siamese, and Vietnamese realms of 1820/1830 were considerably larger than their charter predecessors. Finally, territorial extension required and reflected more effective internal administrative controls.”[20]

During the first three reigns of Bangkok, Siamese kings, through massive and violent military expeditions, sought control and annexation of several areas which used to be distinguished as vassal or periphery states. The Siamese army in the reign of Rama III, in particular, was active in a vast territory of one hundred thousand square kilometers from the north to the south, covering Chiang Tung, Chiang Mai, Luang Prabang, Vientiane, Champassak, Phnom Penh, Khorat Plateau to the Malay peninsula. Those military movements directly challenged the landscape of multi-political centers which existed during the first two reigns, which essentially can be described as a new level of Siamese centralized expansion in controlling rice, trading resources and manpower on both side of the Mekong basin.[21] The same picture is also evident from the Vietnamese attempt to expand their administrative system into southernmost Cochinchina, eastern Cambodia, and northwestern Tonkin. For the first time, after two hundred years of division, the country was united under the authority of a single central government who controlled a territory as large as present-day Vietnam. With a strong political ambition, the appearance of nineteenth century Vietnam was accompanied by the need to reorganize its territory for more effective management. Minh Mạng’s administrative reforms demonstrate the Vietnamese effort to bring state making up to the mountains and ethnic minority areas. Going to the west became the new orientation of Vietnam history as the state was aware that control of the new merged territories was politically and economically vital, with trading resources coming from the mountains along the Mekong and rice exports from the lower river delta which, since the middle of nineteenth century, constituted more than seventy percent of the total exports in the region.[22]

Foreign trade was undoubtedly crucial for both Bangkok and Hue; as a result, there was the need to create an effective administrative system, especially in the area of rich commercial resources. In doing so, the Siamese and Vietnamese state conducted an unparalleled massive project to conquer the Mekong River and created a space of centralized establishment. The state produced administrative infrastructure in complex terrains and expanded its institutions into the periphery. People at the frontier were then collected and resettled along those state facilities. Through territorialization of space, the state built new ways of managing the political surface by means of an administrative system, rather than traditional power relationships mainly based on “loyalty” and vassal obligation.

 

Moving people along the State Infrastructure in the Mekong Valley

Between the 1820s and the 1850s, the Mekong valley witnessed considerable movement of people. Various ethnic groups were voluntary or forced to cross different terrains, frontiers and human landscapes. Most of those demographic influxes directly resulted from the impact of centralized expansion through which people escaped from warfare, starvation, religious and ethnic suppression, and more frequently, as part of state design. The lack of manpower in the mainland contributed to this movement when huge numbers of people were required to service massive working project such as digging canals, building roads, fortresses, and joining warfare.[23] It is suggested that in 1800, the Siamese population was around four million and became 4.75 million in 1825.[24] During the same period, the Vietnamese population was around seven million.[25] Those figures seem far from sufficient since Bangkok and Hue both required large manpower to build a new capital, public works, hydraulic systems, and maintaining a large standing army. During the campaigns of Taksin and Rama I, war captives and peoples were collected from the Malay, Khmer, Lao and Shan territories to resettle around the Chao Phraya basin. In the early days of Bangkok, ten thousand Cambodians were forced into labour in digging canals which allowed Bangkok, a low-lying, flat terrain of elevation less than two meters above sea level, to become a new and dense capital city.[26] Then, 5,000 Laotians from Vientiane were recruited to construct fortifications and walls and another 20,000 laborers were brought to drain the land and extend the city in a larger scale.[27] In the reign of Rama III, at least four large projects to improve waterways were completed. Among those was a project to dig a canal linking Huamak to Bang Khanak, thirty-three miles long, costing nearly 96,000 baht, and taking two years.[28] The impact of those public works was extremely significant in creating a new human landscape. Most of new dense population of Bangkok ran along the newly-building canal system of Ku Muang Dern canal, Bangkok Noi canal, Bangkok Yai canal, Rob Krung Canal, Ong Ang canal, Banglumphu canal, and Mahanak canal.[29]

Following the war with Đại Nam, those canals continued moving eastward along with increasing Siamese engagement in Cambodia and Cochinchina. Many routes and waterways were originally built for military purposes to solve the main challenge of rapid conveyance of troops and supplies to support newly established territories. Several channels were constructed to connect Bangkok with the Khorat Plateau and inner Cambodia which played a crucial role in the Siamese military responses to Lao and Cambodian incidents. The Sean Saep Canal was built in 1837 with the aim of hastening the movement of troop and military supplies to the Cambodian territory. The eastern part of this canal, called Bang Khanak, extended to the Prachin Buri River.[30] In this context, the resettlement of 30,000 Mon (1815), and 150,000 Lao brought back from Vientiane by Chaophraya Bordin (1827) played an indispensable role in assisting Siamese state-building.[31]

To the eastern mainland, moving deeper into the vast complex terrain of the Lower Mekong, the Vietnamese faced more challenges of communication and agricultural expansion. Most of the areas along the river banks and of easy cultivation were captured and canal and irrigation works were the only choice for the state to move forward into the amphibious world. In 1817, Gia Long examined the map of Châu Đốc and instructed that, “for this region, it is now the time to open a river-route to go straight to Hà Tiên, [people] would easily make business and do agriculture. Then, people are crowded, lands are going to expand, [Châu Đốc] can be a huge commandery.”[32] In the reign of Minh Mạng, building canals, routes and military fortresses were the main public works which the Nguyen dynasty conducted in the southern region. Tens of thousands of peoples, including Vietnamese, Chinese, Malay, Khmer, Cham were voluntarily or forced to move following this unprecedented phenomenon. In order to dig the Vĩnh Tế canal, for instance, nearly one hundred thousand people were recruited in this five year project, including around thirty thousand Khmer. These people then were organized into communities and villages along the water channels and rice fields which partly formed new administrative units.[33]

As a result of this massive human fluidity, both Siam and Đại Nam created space for a multiethnic and multicultural society. The establishment of Bangkok vividly demonstrates the intermingling of peoples from the Mekong space. Edward Van Roy suggests that under the reign of Rama III, Bangkok’s eleven disparate ethnic minorities – Mon, Lao, Khmer, Malay, Cham, South Asian, Vietnamese, Burmese, Thai-Portuguese, and Western – consisting primarily of refugees and war captives from the inlands and merchant mariners and wage workers from overseas, constituted a tableau of discrete settlements that collectively played a vigorous and variegated role in the city’s political, social and economic life. The way Bangkok was structured thus reflects the shifting paradigm of the Siamese internal relationships. With respect to ethnic spatial distribution, for instance, settlements assumed a radical pattern around a sacral center in conformity with their social status, and they divided north and south of the capital’s lateral axis in accordance with their respective roles in linking Siam’s internal redistributive economy with the external market economy.[34] This kind of urban transition to modernity was never seen at Ayutthaya.[35] The creation of a multiethnic society in the Lower Mekong under the Vietnamese state offers another image of multiethnic transition. The Vietnamese central state collected people of all ethnicities and then put them together with different languages, cultures, and religions. Minh Mạng later on used the same strategy when he expanded control toward the Tai area in northwestern Tonkin and Cambodia. Vietnamese officials were appointed to rule Cambodia or ethnic zones in order to set up a Viet standardization of culture and politics. The process can be called “Vietnamization”.[36]

 

Administrative Expansion

 

Massive expansion of state-making caused the destruction of traditional power relationships in the Mekong valley. The region has long been described as a ‘social space’ of shared values, culture, beliefs, identity and kinship.[37] Human interaction therefore was historically shaped by the flow of water and streams along ‘riverine exchange networks’ and valleys between mountains. Such discourse of political internal relations through the Mekong faced severe challenges from the two unprecedented emerging centralized building campaigns of Đại Nam and Siam who were able to locate peoples on maps and no longer accepted the existence of any ambiguous political zones. State-building provided a clear political identification by marking spaces with labels of authority and boundary. For centuries, Lao muang and Khmer polities were maintained as “muang song fai fa, a principality with dual overlordship.  However, Rama III and Minh Mạng offered no space for such in-homogeneousness, but required frontiers marked and directly controlled by those polities, and, therefore, new forms of administrative networks were created throughout the Mekong space.

Changing the periphery to become territory was a fundamental challenge for the state, which was done by reorganizing space and standardizing the diverse layers of geopolitics, especially the internal political relations between the center/core and the surrounding dependent entities. Popular political and religious movements in Laos, Thailand, and Vietnam show the scale of centralization and local response in keeping the central state at arm’s length. Consequently, expansion of centralization and administrative systems gradually eroded local authorities, which were replaced by new political institutions directly established by the center. Local resistance against centralization took place in various forms, including peasant and ethnic rebellions in early nineteenth century Vietnam. Choi Byung Wook and others argue that the Nguyen centralized policy encouraged revolt of the minority by those who had been forced to abandon their culture, language, and economic nature, and who were turned into a “Viet” standard of civilization. The Cham in the central and Khmer in the lower Mekong also tried escape the Viet state making, although not many of their efforts came to success.[38]

The establishment of an administrative system was a popular phenomenon in Đại Nam, and, to a certain extent in the case of Siam, between the 1820s and 1850s. This started by sending troops from the center for permanent control and dispatching central officers to form a permanent government; then came the process of cultural, social, and ethnic “assimilation” following the central model of the state, a cadastral survey, population registration, taxation, and corvée obligation. The period between 1767 and 1851 witnessed the expansive consolidation of Siamese administration over main trading routes and extensive mobilization of manpower from the trans-Mekong basin. The whole area of the Khorat Plateau was under direct Bangkok control and was tied with Siam Reap and Battambang. The fruit of those efforts were significant for Siam. Between 1767 and 1882, about 150 new muang were created in the Khorat Plateau, Laos and western Cambodia.[39] After the Chau Anu rebellion, Siam brought all the former Vientiane territory under its direct administration. The same effort was made by Rama III to annex the western provinces of Cambodia, such as Siem Reap and Battambang, as part of the Siamese political domain.

In Đại Nam, Alexander Woodside also informs that the number of districts in Vietnam increased from 178 in the sixteenth century to 238 in the middle of nineteenth century.[40] Similar to the Siamese, who brought a new system of legitimacy and structure of power over the new muang network, Minh Mạng continuously promoted the “cultivation” of the southerners by the introduction of Confucianism, the building the roads and citadels to connect the whole kingdom and by sending his officers to rule in every corner of the country. He once instructed that, “these days I hear they [southerners] smoke opium, sing rowdily, gamble, dispute, and like the most brutal violence. These habits inevitable lead to robbery and burglary. As the women are licentious, their behavior is more disgusting. Husbands are already dissipated, then how can they ask for the fidelity of their wives.”[41]

The mythical kinship relationship between the Thai and Lao, for the first time, was violated by the Taksin invasion in 1778. Four decades later, Rama III changed the Lao from brotherhood to being his subjects through a military campaign in 1827. The sack and complete destruction of Vientiane followed, together with a massive resettlement of Lao people on what is now the Thai side of the Mekong River, and in the next few years the Thai brought all the former Vientiane territories under their direct administration.[42] The following description by Vietnamese spies sent to Lao by Hue suggests the advance of Siamese in their new territory with roads, storehouses, and military fortresses:

Nguyen Dinh Hung and Vu Dinh Hau reported that at the hour of the Cock, in the 26th day of the first month, [Vietnamese] military officers in Tran Ninh [Laos], named Tong Phuc Minh and Truong Van Su made a report that, Vietnamese spies were sent to the kingdom of Nam Chuong [Luang Prabang]. Those informed that this kingdom built two grain storehouses [for the army], one on the Thi River bank, and one in baan Lang. The road from the Thi River to Tran Ninh was widened. [Luang Prabang] also built two garrisons for Siamese troops to encamp.[43]

 

The 1827 incident in Laos marked a new phase of competition between Siam and Đại Nam. Although there was no direct war, the policies of Rama III and Minh Mạng toward Vientiane and other Laos muang were clear enough to think of a possible frontier in the central Mekong. It is likely that the Siamese had a skillful solution for this political situation when, in 1827, they depopulated most of the settlements in Vientiane, as well as refused to have any further military excursions eastward where Vietnamese troops had already set up at Sam Nua, Tran Ninh, and Savannakhet. The frontier between those two power networks seemed acceptable, even after Siamese administration reached Vientiane. In response, Vietnam strengthened its ties with the power network based in the Lao principalities locating along the present-day Lao-Vietnamese border to prevent the Siamese from any further military advance eastward. This political situation was maintained for several decades until the coming of the French.

Siamese and Vietnamese state-making in Cambodia was the main cause of confrontation on the mainland during the first half of the nineteenth century. The Cambodian kingdom was an ‘overlapping zone’ for centuries because of political division and dependence on Ayutthaya and Nguyen Cochinchina. They both maintained Cambodia as a vassal state with dual overlordship until Rama III and Minh Mạng challenged this traditional recognition. Recent scholarship suggests that an economic motor was the main theme of the nineteenth century Siamese engagement in Cambodia. As a result, a new political structure was set up by Siam in order to carry out an economic monopoly.[44] I also would like to propose that the emergence of early modern state making can possibly be seen as another motive for Vietnamese and Siamese expedition in Cambodia. The first attempts that tried to break the traditional political network among Siam, Cambodia, and Vietnam came from the Siamese in the late eighteenth century. King Taksin of Thonburi reached Hatien [Ponthaimas], and King Rama I launched a fifty-thousand troop campaign into the Lower Mekong Delta before being defeated in 1785/1786 by the Tây Sơn.[45]

Unlike Laos, the coherent geography and economic entity of Cambodia gave the kingdom a unique role to play in the context of regional confrontation in the Mekong. The situation was even more tragic for Cambodia as division came to its court and elite group. Accordingly, any attempt to monopolize Cambodia politically, economically, and militarily led to unavoidable conflict because Cambodia itself was a complex geopolitical and economic entity. All demographic and economic centers, as well as trading sources, were linked along the Tonle Sap Lake, Cardamom Mountains, and northern mountains of Champassak. Notwithstanding, for a decade both Rama III and Minh Mạng consistently tried to annex the whole or part of Cambodia into their political domain. The most significant attempt was made by Minh Mạng in 1834 when he defeated a Siamese five-army invasion and assumed control over Cambodia. The Cambodian Queen was captured and taken to Sai Gon and her kingdom then became the thirty-second province of Đại Nam, Tran Tay Thanh or a western protectorate. Nguyen dynasty document shows how this province was run without exception from the others:

In the Ming Mạng period [r. 1820–1841], the king of Cao Man had no heir and four of his daughters stood equal and could not rule the country. [Our king] thus ordered the army of Tham Tan, General Trấn Hộ (Pacify and Protect) to prepare rice rations and sent it to the [protecting Vietnamese] government, in order [for it] to [be able to] manage the land and set up [district] administrations there. Eleven prefectures (phủ) [are being set up]: Trấn Tây, Nghi Hoà, Nam Ninh, Võ Công, Hà Bình, Mỹ Lâm, Sơn Tĩnh, Hải Đông, Hải Tây, Ninh Thái, and Quảng Biên; and 25 districts (huyện): Phong Nhương, Thượng Phong, Nam Thái, Nam Thịnh, Phù Nam, Kỳ Tô, Thái An, Bình Xiêm, Trung Hà, Chân Tài, Phúc Lai, Hải Ninh, Tập Ninh, Trưng Thụy, Mỹ Tài, Hoa Lâm, Quế Lâm, Sơn Đông, Hải Bình, Thâu Trung, Ngọc Bia, Giang Hữu, Nam Thành, and Vĩnh Trường. All these units retain contacts with the [Vietnamese] provinces nearby, the same way that An Biên and Tinh Biên were managed by Hà Tiên, and Ba Xuyên was managed by An Giang.[46]

 

Explaining his extraordinary move, Minh Mạng was reported to have announced that:

Truong Minh Giang once said, the people in Cambodia are plain, even more than the indigenous people in northern Vietnam, I myself do not believe. Today, among those in northern Vietnam, some have engaged with the intellectual, some have known the Chinese, [it means that] my power can make them fear, my favor can make them grateful. On the other hand, the Cambodians are insentient, and it is very difficult to rule them. I knew this [the Khmer rebellion] would happened some day, fortunately, this time our kingdom is strong, [I will take this opportunity] to launch a decisive mopping-up operation, then to comfort them in order to be free from worries. For those important things such as this, I want to take responsibility thus my sons, my grandsons will no longer have to be engaged with such troubles.[47]

 

In response to the Vietnamese advance, the Siamese established its authority in the western part of Cambodia which, in some way, reflected the same political movement as that of the Vietnamese.[48] In spite of the fact that those new parts of the Siamese domain were characterized as huamuang chan-nok (outer townships) in order to differentiate them from huamuang chan-nai (inner townships), Siam Reap and Battambang were under the authority of Krom mahatthai. Governors of those areas had Thai title, served Bangkok as officials, and collected tax and manpower for the Siamese.[49]

In the newly settled territory, the state cultivated its people into subjects and transformed rulers to be under direct center control. Both a taxation system and population survey were established in Vietnam’s western protectorate and Siam’s outer townships of Siam Reap and Battambang. The process of ‘Vietnamization’ was promoted in Cambodia, the same as the ‘cultivation’ policy Minh Mạng conducted in southern Vietnam. This implies that there was no difference between the periphery and overlapping zones which now were turned into part of the kingdom’s administration system. The king ordered the Vietnamese governor of Cambodia:

The Barbarians [in Cambodia] have become my children now, and you [Truong Minh Giang, governor of the Vietnamese western protectorate] should help them, and teach them our customs. … And my instructions to you are these; teach them to raise mulberry trees, pigs and ducks. … As for language, they should be taught to speak Vietnamese. [Our habits of] dress and table manners must also be followed. If there is any out-dated or barbarous custom that can be simplified, or repressed, then do so.[50]

 

Conclusion: Toward Defining a Paradigm of Power in the Mekong Valley before French Indochina

The shifting of the power paradigm during the reign of Rama III and Minh Mạng reflects a transformation of political terrain in the Mekong basin when traditional politics were challenged under the quest for an effective administrative system to manage territory, manpower, and economic resources. Significant military expeditions over Laos and Cambodia launching almost annually during the reign of Rama III and Minh Mạng presented attempts by the state to reorganize geopolitics and set up state institutions in the periphery. Those two monarchs experienced the last power shift in the precolonial Mekong space and therefore its significance should not be neglected. The paradigm of power both sought to establish the extension of state making to control groups at the frontier and for the territorialization of space. Bangkok’s policy toward the western side of the Mekong, Vientiane and western Cambodia consistently fell in the same line as Minh Mạng’s administrative reform of sending Viet officials to the mountains where he converted all the diverse layers of political management into homogeneous Đại Nam standardization. All those people, who used to be located outside the cultural and ethnic frontier of ‘civilized Viet’, were turned into subjects of the Đại Nam kingdom by being cultivated into ‘civilization’ through Confucian education, cadastral surveys, population registration, taxation, corvée obligation, and lingua franca. Following the establishment of a state standard, the traditional power structure of loyalty network and a mandala’s ‘field of power’ were likely extinguished and reconstructed into a new form of a more homogeneous power relationship.

rian Thai

Figure 1: Changes in Power Paradigm in Early Nineteenth Century Siam and Đại Nam

In spite of clear awareness that the phenomenon was unfinished and a larger scale of full state-making can be found in subsequent periods, this article suggests that there was a new political tendency region-wide, rather than a complete transformation of centralized state in the Mekong valley. The difference between Đại Nam and Siam should also be noted here as already acknowledged by scholarship on the later period when Siamese political reform in Western-style would fundamentally reconstruct the country’s administrative system by which a ‘full-version’ of a modern nation state gradually emerged. However, the trend can be traced back as far as a half century earlier when both Huế and Bangkok exhibited a strong sense of building state institutions along the Mekong. The expanding state-making was based on transforming the natural and human landscape and resettling people of all ethnicities. The process was designed by the central state by creating of nation-building establishment. James Scott recently has suggested a model of interaction between the valley kingdoms and highlanders of Zomia. He points out that the moving of state-making toward the highland was much later and it was more challenging for the valley kingdoms to climb up to the higher terrain. The reason is that highlanders could move back and forth over the vast periphery to escape.[51] This article, however, reveals a different angle of state building with more diverse elements of complex terrain and multiethnic atmosphere, indicating that geographies of knowledge and infrastructure of state making are fundamental in order for centers to facilitate the invasion of space.

The practice of power by Rama III and Minh Mạng goes beyond the traditional idea of the power of a Southeast Asian state which comes close to the modern political conceptualization of territory and sovereignty. The place of a traditional power relationship using an administrative system was a crucial change in the early nineteenth century Mekong valley, resulting in the introduction of contours of a new political body, not only to Siam and Vietnam, but also to Laos and Cambodia. By this means, the process took part in shaping a regional paradigm of power driven by state making and the political re-identification of many places with ambiguous political status. Two among those transformations are significant: the coming to an end of the overlapping zone and the replacing of the traditional political relationship with an administrative network under direct control of a centralized kingdom. Scholarship on Southeast Asia has typically looked for change between the premodern and early modern pattern of state and the political evolution during the time of Rama III and Minh Mạng as strategically represented by this phenomenon.

By this, those centralized kingdoms crossed mountains of the Zomia world and tried to provide proto-nationhood for groups who, in many ways, were not fully incorporated with state organization in northern Thailand, the Khorat Plateau, the Vietnamese Central Highland, Muong Phuon, Xieng Khoang, Boloven Plateau, and Champasak.[52] It is not surprising that many of the people along the Mekong River adopted the technique of state-making from the Thai and Vietnamese as a strategic choice for political survival. In the context of “the last stand of autonomy,” the Khmer movement against Vietnamese and Siamese intervention occurred in the form of a “Pre-Nationalist Response”.[53] When King Duang came to power in 1848, after decades of political turmoil, he practiced the same strategies of Siamese and Vietnamese centralization in running Cambodia during the time of ‘restoration’.[54] In 1827, Chau Anu had his own project to connect different groups on both side of the Mekong River and seek Lao reunification. Other Lao phongsawadan also reveal that there may have been influence coming from Vietnamese cadastral and census practices in controlling land and manpower.[55]

There is no doubt that changing geopolitics in the Mekong valley had a great impact on small principalities in shaping the early modern political landscape. This crucially reflects the way people in the region responded to the quest for modernity by recognizing, reorganizing, and redefining space with all kinds of human landscapes within. It is a time when the Mekong was gradually transformed into a form of modern politics and the people’s conceptualization of space was also reconstructed, coming closer to the contemporary terminologies of geopolitics. Part of the heritage of the Rama III-Minh Mạng paradigm of power can be experienced through the wide range of map collections. Those maps contain authentic geographical knowledge, clear statements of authority, and strategic views of military, economic and political positions of places. It is worth noting that during the time of Rama III and Minh Mạng, the Mekong valley, for the first time, was put on maps, recognized by cartography, and run by a project of nation-making. Many parts of this cartography were then acknowledged as modern borderlines and historically became vital for understanding the introduction of a ‘geo-body’, boundaries, and territories in the Mekong valley.

 

[1] The research for this article was partially funded by the Empowering network for International Thai Studies (ENITS), Institute of Thai Studies, Chulalongkorn University, with support from the Thailand Research Fund (TRF). The author would like to thank Dr. Sunait Chutintaranond, Dr. Bruce Lockhart, Dr. Montira Rato, and Dr. Pornpen Hantrakool for their comments on the first draft, and to ENITS reviewers for insights and criticism, which have helped improve this article considerably. None of them in any way can be held responsible for the errors therein.

[2] See Chiranan, Presertkul, Yunnan Trade in the Nineteenth century: Southwest China’s Cross-boundaries Functional System (Bangkok: Institute of Asian Studies, Chulalongkorn University, 1989); Puangthong, War and Trade; Li and Cooke, Water Frontier; Lieberman, Strange Parallels; Walker, The legend of the golden boat.

[3] Sunait, “Cakravartin”; Sunait and Than Tun, On Both Sides of the Tenasserim Range.

[4] Chandler, “Cambodia Before the French”.

[5] Li and Cooke, “The Customs of Cambodia”, 155-156.

[6] Reynolds, “Paradigms of the Premodern State”, 31-52.

[7] Wolters, History, Culture, and Region, 31-32; Gesick, “Kingship and Political Integration in Tradition Siam”, chapters 2 and 3; Tambiah, World Conqueror and World Renouncer.

[8] Cam Trong, Baan-müang, 12-26.

[9] See Chandler, “Cambodia before the French”; Eiland, “Dragon & Elephant”; Bun Srun Theam, “Cambodia in the Mid-19th Century”; Mayoury, Paths to conflagration; Smith, “ ‘Cambodia’ and ‘Vietnam’ ”.

[10] Wood, Rethinking the Power of Maps, 15

[11] On the relationship between cartography and political structure, see Edson, Mapping Time and Space; Thrower, Maps and Civilization; Harley, The History of Cartography.

[12] See Trịnh Hoài Đức [鄭懷德]. Gia Định Thành Thông Chí [嘉定城通志] (Gia Dinh Gazetteer). Trans. Lí Việt Dũng. Nxb Đồng Nai, 2005. (In Vietnamese), Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất thống chí 大南ー統志 (The Unification Records of Dai Nam), Huế: Thuan Hoa, 1996, (In Vietnamese); Lê Quang Định黎光定, Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí皇越一統輿地志 [Geographical Records of the Unified Imperial South], Huế: Thuận Hóa, 2005, (In Vietnamese), Phan Huy Chú潘輝注, Categorized Records of the Institutions of Successive Dynasties (in Vietnamese); Tống Phúc Ngoạn, Collected Records of Itineraries to Siam; Phan Huy Chu, Hai Trinh Chi Luoc; Li and Cooke, “The Customs of Cambodia”.

[13] Whitmore, “Cartography of Vietnam”, 497.

[14] Whitmore, “Cartography in Vietnam”, 478-510; Quốc sử quán triều Nguyễn, Bibliographies of Đại Nam, 549 (in Vietnamese); Li and Cooke, “The Customs of Cambodia”, 149.

[15] Santanee, Royal Siamese Maps, 22.

[16] Kennedy, “An Indigenous Early Nineteenth Century Map of Central and Northeast Thailand”.

[17] Phan Huy Chú, Categorized Records of the Institutions of Successive Dynasties (in Vietnamese).

[18] Li and Cooke, “The Customs of Cambodia”, 151.

[19] Chandler, A History of Cambodia, 152.

[20] Lieberman, Strange Parallels, vol. 1, 28.

[21] Wilson, “The Holy Man in the History of Thailand and Laos”, 345-364.

[22] Yoko, “The Rice Exports and the Colonial Tariff Policy of the French Indochina”, 60-82.

[23] Scott, The Art of Not Being Governed, 4.

[24] Skinner, Chinese Society in Thailand, 68, 70; Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce, vol. 1, 14.

[25] Li, Nguyen Cochinchina, 159-172; Yumio Sakurai, “Vietnam After the Age of Commerce”, 1, 3; Lieberman, Strange Parallels, 420.

[26] Shigeharu, “Historical Geography of the Canal System in the Chao Phraya River Delta”, 28.

[27] Wenk, The Restoration of Thailand under Rama I, 1782-1809, 19-22.

[28] Vella, Siam Under Rama III, 24.

[29] Pussadee, “Settlement in the Central Region of Thailand”, 17.

[30] Shigeharu, “Historical Geography of the Canal System”, 44; King, “Travels in Siam and Cambodia”, 177-182.

[31] See, Chandler, who mentioned a palm leaf chronicle at Wat Srolauv [1856], in north central Cambodia which suggested that during the wartime, many Khmer escaped into Siam and whom Rama III “allowed to settle and grow rice” along the border. Chandler, Facing Cambodian the past, 91. Also Mayoury, Paths to Conflagration, 231. The search for manpower was continuously increased in Siam between 1778 and 1828. Mayoury also demonstrated vividly this phenomenon in the case of the Lao areas. Mayoury, Paths to Conflagration, 45-50. Puangthong also mentioned the Siamese control of the Khmer population in the western Cambodian provinces of Battambang and Siam Reap. Puangthong, “War and Trade”, chapter VI.

[32] Quốc sử quán Triều Nguyễn, The Veritable Records of Đại Nam, Vol. 4, 308 (in Vietnamese).

[33] Chandler, David. “An Anti-Vietnamese Rebellion in Early Nineteenth Century Cambodia: Pre-Colonial Imperialism and a Pre-Nationalist Response.” Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 6, No. 1 (Mar 1975): 16-24; Nguyễn Văn Hầu, Thoai Ngoc Hau and the Campaigns to reclaim the Transbassac (in Vietnamese).

[34] Van Roy, “Twixt Land and Sea: Bangkok’s Plural Society on the Verge of Modernity”.

[35] The separation of ethnic settlements in Ayutthaya shows the very traditional way of the capital’s organization in these old days of Southeast Asia in which ethnicities were isolated with each other and located outside the Grand Palace or the Royal Section. Garnier, Ayutthaya: Venice of the East; Wright, Discovering Ayutthaya; Baker, “Old Ayutthaya as a City”.

[36] Poisson, “Unhealthy air of the Mountains”, 12-24; Chandler, A History of Cambodia, 151-152.

[37] Sachchidanand, The Mekong River Space and Social Theory.

[38] See Choi Byung Wook, Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng; Weber, “The Destruction and Assimilation of Campa”, 158-180; Weber, “Securing and Developing the South-western Region”, 739-772.

[39] Puangthong, War and Trade, 54, Also see the “Strategic Map from the Reign of Phrabat Somdet Phra Ramathibodi I”, in which the map shows the state-control expansion over the Khorat Plateau and Mun River Valley, and the left bank of Mekong River during the early Bangkok Period. Santanee, Royal Siamese Maps, 51.

[40] Trương Quốc Dụng, Công Hạ Ký Văn, 1: 80b, quoted in Woodside, Vietnam and the Chinese Model, 23.

[41] Quốc sử quán triều Nguyễn, Abstract of policies of Minh Mạng, 13: 19a (in Vietnamese); see also Choi, Southern Vietnam under the reign of Minh Mang.

[42] Vella, Siam Under Rama III.

[43] Cơ mật viện, Khâm Định Tiễu Bình Tiêm Khâu Phương lược [Strategy to suppress rebellion following the King order], Quyển / Volume 7, Library, History Institute, Hanoi, (in Vietnamese).

[44] Puangthong, War and Trade.

[45] Vũ Thế Dinh, Genealogy of the Mac Family of Hatien (in Vietnamese).

[46] Li and Cooke, “The Customs of Cambodia”, 149.

[47] Quốc sử Quán triều Nguyễn, Abstract of policies of Minh Mạng, 193 (in Vietnamese).

[48] See Phongsawadan khamen, cited in Puangthong, “War and Trade”.

[49] CMH, R. III C.S. 1192/4 in Chotmaihet rachakarn thi sam [Record of the Third Reign of the Chakri Dynasty], Vol. 5 (Bangkok, Published on the occasion of the 200th birthday of Rama III, 1987), 108-109, quoted in Puangthong, “War and Trade”, 182-184.

[50] DNTL, cited in Chandler, A History of Cambodia, 152-153.

[51] Scott, The Art of Not Being Governed.

[52] Scott, The Art of Not Being Governed.

[53] Chandler, An Anti-Vietnamese Rebellion.

[54] Chandler, A History of Cambodia, 163-164.

[55] Vickery, “Two historical Records of the Kingdom of Vientiane”, 3-35.

 

References

Baker, Chris. “Old Ayutthaya as a City.” Speech at the Siam Society, September 20th, 2011.

Bun Srun Theam. “Cambodia in the Mid-19th Century: A Quest for Survival.” MA thesis, The Australian National University, 1981.

Cam Trong. Baan-müang: A Characteristic Feature of the Tai Socio-Political System, (introductory article). TAI CULTURE. International Review on Tai Cultural Studies: Special issue “baan-müang: Administration and Ritual.” Vol. III, No. 2; SEACOM Berlin (December 1998): 12-26.

Chandler, David. “Cambodia before the French: Politics in a Tributary Kingdom, 1794-1848.” PhD dissertation, University of Michigan, 1974.

Chandler, David. “An Anti-Vietnamese Rebellion in Early Nineteenth Century Cambodia: Pre-Colonial Imperialism and a Pre-Nationalist Response.” Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 6, No. 1 (Mar 1975): 16-24.

Chandler, David. Facing the Cambodian Past. Chiang Mai: Silkworm Books, 1996.

Chandler, David. A History of Cambodia. Silkworm Books: Chiang Mai, 2008.

Choi Byung Wook. Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng. Ithaca: Cornell University, 2004.

Chiranan, Prasertkul., Yunnan trade in the nineteenth century: Southwest China’s cross-boundaries functional system. Bangkok: Institute of Asian Studies, Chulalongkorn University, 1989.

Cơ mật viện [Privy Council], Khâm Định Tiễu Bình Tiêm Khâu Phương lược [Strategy to suppress rebellion following the King order], Quyển / Volume 7, unpublished translation, Library of the History Institute, Hanoi, (in Vietnamese).

Eiland, Michael. “Dragon and Elephant: Relations between Vietnam and Siam, 1782-1847.” PhD dissertation, George Washington University, 1989.

Edson, Evelyn. Mapping Time and Space: How Mediaeval Mapmakers Viewed Their World. London: The British Library, 1997.

Đại Man Quốc Đồ大畿國圖 (Map of Great Barbarian kingdoms), 1798, Microfilm collection, A. 2499, Hamilton Library, University of Hawai’i at Manoa, Honolulu. ( Map in Sino-Vietnamese).

Garnier, Derick. Ayutthaya: Venice of the East. Bangkok: River Books, 2004.

Gesick, Lorraine. “Kingship and Political Integration in Tradition Siam.” PhD dissertation, Cornell University, Ithaca, 1976.

Harley, J. B and David Woodward, eds. Cartography in the Traditional East and Southeast Asian Societies, The History of Cartography, Volume Two, Book Two. Chicago and London: The University of Chicago Press, 1994.

Kennedy, Victor. “An Indigenous Early Nineteenth Century Map of Central and Northeast Thailand.” In Memoriam Phya Anuman Rajadhon. Bangkok: The Siam Society, 1970.

King, D. O. “Travels in Siam and Cambodia.” Journal of the Royal Geographical Society of London, Vol. 30 (1860): 177-182.

Kathathon-thoranin (Yia), Chaophraya. Phongsawadan muang Phratabong (Chronicle of Battambang). Bangkok: Khurusapha, 1964. (in Thai).

Li Tana. The Nguyen Cochinchina. Ithaca: Cornell University Press, 1998.

Li Tana and Nola Cooke, trans. “Trấn Tây Phong Thổ Ký [鎮西風土記] (The Customs of Cambodia).” Chinese Diaspora Studies, Vol. 1 (2007): 148-153.

Li Tana and Nola Cooke, eds. Water Frontier. Latham, MD: Rowman and Littlefield, 2004.

Lieberman, Victor. Strange Parallels, Vol. 1. Cambridge: Cambridge University Press, 2003.

Mayoury Ngaosyvathn. Paths to conflagration: fifty years of diplomacy and warfare in Laos, Thailand, and Vietnam, 1778-1828. Ithaca: Cornell University, 1998.

Nguyễn Đình Đầu. Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam Kỳ Lục Tỉnh (The Institutions of Public Ricefield and Public Land in the History of Reclamation and settlements in Six Provinces in the Southern Region). Hà Nội: Hội sử học Việt Nam, 1992. (In Vietnamese).

Nguyễn Văn Hầu. Thoại Ngọc Hầu và Những cuộc khai phá miền Hậu Giang (Thoai Ngoc Hau and the Reclamation of the Trans-Bassac Region). Ho Chi Minh City: Nxb Tre, 2006). (In Vietnamese).

Phan Huy Chu. Hai Trinh Chi Luoc (Haizheng zhilue or Recit sommaire d’un voyage en mer). Trans. and eds. Phan Huy Le, et al. Paris: Association Archipel, 1994. (in Vietnamese and French)

Phan Huy Chú [潘輝注], Lịch triều Hiến chương loại chí [歷朝憲章類誌] (Categorized Records of the Institutions of Successive Dynasties). Dư Địa Chí 輿地誌 [Geography]. 1820, (In Sino-Vietnamese).

Phongsawadan khamen (The Cambodian Chronicle or Nong Chronicle). Bangkok: Khurusapha, 1963. (In Thai).

Poisson, Emmanuel. “Unhealthy air of the Mountains: Kinh and the Ethnic minority rule on the Sino-Vietnamese frontier from the fifteenth to the twentieth century.” On the Borders of State Power: frontiers in the Greater Mekong. Ed. Martin Gainsborough. N. Y: Routledge, 2009.

Puangthong Ruangswasdisab. “War and Trade: Siamese Intervention in Cambodia, 1767-1851.” PhD dissertation, University of Wollongong, 1995.

Pussadee Tiptus. “Settlement in the Central Region of Thailand.” Proceedings of the International Conference: The Chao Phraya Delta: Historical Development, Dynamism, and Challenges of Thailand’s Rice Bowl, Vol. 2. Bangkok: Kasetsart University, 2000.

Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục [大南寔錄] (The Veritable Records of Đại Nam), trans., 10 vols. Hanoi: Giao duc, 2006. (In Vietnamese).

Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam liệt truyện (Bibliographies of Đại Nam), Vol. 2. Hue: Thuan Hoa Publisher House, 1993. (In Vietnamese).

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất thống chí 大南ー統志 (The Unification Records of Dai Nam), Huế: Thuan Hoa, 1996, (In Vietnamese)

Quốc sử quán triều Nguyễn. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ [欽定大南會典事例] (Official Compendium of Institutions and Usages of Imperial Vietnam), 4 vols., Hue: Thuan Hoa, 1993, (in Vietnamese).

Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu [明命政要] (Abstract of policies of Minh Mạng). trans., by Uy ban dich thuat Phu Quoc Vu Khanh Dac Trach Van Hoa (Saigon: 1972-1974), republished by Nha xuat ban Thuan Hoa, 3 vols. Hue: 1994. (In Vietnamese).

Reid, Anthony. Southeast Asia in the Age of Commerce, vol. 1. New Haven: Yale University Press, 1988.

Reynolds, Craig J. “Paradigms of the Premodern State.” Seditious Histories: Contesting Thailand Southeast Asian Pasts. Seattle and London: University of Washington Press and Singapore: Singapore University Press, 2004.

Sachchidanand Sahai. The Mekong River Space and Social Theory. New Delhi: B. R. Publishing Corporation, 2005.

Santanee Phasuk and Philip Stott. Royal Siamese Maps: War and Trade in Nineteenth Century Thailand. Bangkok: River Books, 2004.

Scott, James C. The Art of Not Being Governed. New Haven: Yale University Press, 2009.

Shigeharu Tanabe, “Historical Geography of the Canal System in the Chao Phraya River Delta: From the Ayutthaya Period to the fourth Reign of the Rattanakosin dynasty.” Journal of the Siam Society, Vol. 65, part 2 (July 1977).

Skinner, G. William. Chinese Society in Thailand: An Analytical History. Ithaca: Cornell University Press, 1957.

Smith, Ralph. “ ‘Cambodia’ and ‘Vietnam’ in a regional perspective (16 –19th Centuries).” Guerre et paix en Asie du Sud-Est. Eds. N. T. Anh and Alain Forest. Paris: Editions L’Harmattan, 1998.

Sunait Chutintaranond. “Cakravartin: The Ideology of Traditional Warfare in Siam and Burma, 1548-1605.” PhD dissertation, Cornell University, 1990.

Sunait Chutintaranond and Than Tun. On Both Sides of the Tenasserim Range. Bangkok: Chulalongkorn University Press, 1995.

Tambiah, S. J. World Conqueror and World Renouncer. Cambridge and NY: Cambridge University Press, 1976.

Thrower, Norman J. W. Maps and Civilization: Cartography in Culture and Society. Chicago and London: The University of Chicago Press, 1999.

Tống Phúc Ngoạn [福玩] and Dương Văn Châu [楊文珠]. Xiêm La quốc lộ trình tạp lục [暹羅國路程集錄] (Collected Records of Itineraries to Siam). Ed. Chen Chingho []. Hongkong: New Asia Research Institute Historical Material Series No. 2, Chinese University of Hong Kong, 1966. (In Sino-Vietnamese)

Trịnh Hoài Đức [鄭懷德]. Gia Định Thành Thông Chí [嘉定城通志] (Gia Dinh Gazetteer). Trans. Lí Việt Dũng. Nxb Đồng Nai, 2005. (In Vietnamese).

Van Roy, Edward. “Twixt Land and Sea: Bangkok’s Plural Society on the Verge of Modernity”, MS.

Vella, Walter, F. Siam under Rama III, 1824-1851. Locust Valley, NY: J.J. Augustin, 1957.

Vickery, Michael. “Two historical Records of the Kingdom of Vientiane.” Contesting Visions of the Lao Past. Eds. Christopher E. Goscha and Soren Ivarsson. Copenhagen: NIAS, 2003. 3-35.

Vũ Thế Dinh [武世營]. Hà Tiên Trấn Hiệp Trấn Mạc Thị Gia Phả [河僊鎮葉鎮鄚氏家譜] (The Genealogy of Mac family of Ha Tien). Trans. Nguyễn Văn Nguyên. Hà Nội: Thế giới: 2006. (In Vietnamese).

Walker, Andrew. The legend of the golden boat: regulation, trade and traders in the borderlands of Laos, Thailand, Burma and China. Surrey: Curzon Press; Honolulu: University of Hawaii Press, 1999.

Weber, Nicolas. “Securing and Developing the Southwestern Region: The Role of the Cham and Malay Colons in Vietnam (1759-1867).” JESHO 54 (2011).

Weber, Nicolas, “The Destruction and Assimilation of Campa (1832-5) as seen from Cam Sources.” JSEAS 43(1) (2012): 158-180.

Wenk, Klaus. The Restoration of Thailand under Rama I, 1782-1809. Tucson: The University of Arizona Press, 1968.

Wilson, Constance M. “The Holy Man in the History of Thailand and Laos.” JSEAS, Vol. 28, 2 (1997): 345-364.

Whitmore, John K. “Cartography of Vietnam.” The History of Cartography, Volume Two, Book Two, Cartography in the Traditional East and Southeast Asian Societies. Eds. J. B. Harley and David Woodward. Chicago and London: The University of Chicago Press, 1994.

Wolters, Oliver, W. History, Culture, and Region in the Southeast Asian Perspective. Ithaca: Cornell University Press, 1999.

Wood, Denis. Rethinking the Power of Maps. London, New York: The Guilford Press, 2010.

Woodside, Alexander. Vietnamese and the Chinese Model. Cambridge: Harvard University Press, 1971.

Wright, Michael and Charnvit Kasetsiri. Discovering Ayutthaya. Bangkok: Toyota Foundation, 2007.

Yoko Takada. “The Rice Exports and the Colonial Tariff Policy of the French Indochina.” Thailand and Her Neighbors (II): Laos, Vietnam, and Cambodia. Bangkok: Thammasat University Press, 1994.

Yumio Sakurai. “Vietnam after the Age of Commerce.” Unpublished manuscript.

 

A VIETNAM’S OFFICIAL RESPONSE TO PROF. KEITH W. TAYLOR

I always look for a fair and straightforward dialogue between Vietnamese and foreign scholarship on various historical topics, but in return, it always fails me because I have not seen such conversation at least since the 1960s. One upon a time, Dao Duy Anh, Tran Van Giap, Hoang Xuan Han, Tran Duc Thao…  clearly reached the world standard of academic research and deserved a great deal of respect from their western counterparts. The glorious days were far away.

For a historical dialogue between Vietnamese and Western scholars, there are two important obstacles I think need to be adjusted.

First, Vietnamese scholars are likely not to stand on the same ground, theoretically and in term of methodology to “fight back”. As far as I concern among Vietnamese academic communities, there is very little afford to keep updated with new development of the world of academia abroad. So it seems that both are speaking in different languages.

Second, language barrier, since most historians today in Vietnam were trained in either Russia, East tern Europe or China, and to the rest, in Vietnam. English is obviously not their favorite language of expression. Few historical works thus have been produced in English. More importantly, historical trajectory of the 20th century causes serious damage to the way in which historian accesses to material of the past. In fact, most historians of premodern Vietnam are not unable to master literary Chinese which is essential to go through materials and make points of their arguments.

Therefore, instead of discussing other arguments and making the case evidently, they tend to take a detour which sometimes not necessarily concerns to their targeted academic works.

In 2015, prof. Keith Taylor was awarded the Phan Chau Trinh prize for his remarkable contribution to Vietnamese studies.  At the same time, I find an article on “The People”, daily newspaper in Vietnam responds to the news, “In the Name of History to distort Vietnamese History”. This article seems interesting for me in the way in which the ‘foreign prof.” is portrayed and the kind of language used to criticize his research ideas.

taylor 1

The article starts, “recently, “a” Cultural Foundation in Vietnam awarded its 2015 prizes for several authors, including K. Taylor – an American historian. In the welcoming speech, the foundation’s representative said that, “Keith Taylor is among the most famous scholars of Vietnamese studies both in Vietnam and abroad”. He then “thanks Keith Taylor for the true love and extraordinary commitment to Vietnamese history, and Vietnam”. So who is Keith Taylor, how he researches Vietnamese history? This two-part article by Nguyen Dinh will reveal those questions”.

In the first part, this paper focuses on Taylor’s personal life events chronologically, and the aim is to make sense how and why the historian comes to Vietnamese history. The author selects some of the Taylor’s papers, especially, “How I Began to Teach about the Vietnam War”, and so on, but all are accessed though many websites of Vietnamese translation.

In short, it claims that the young Taylor had nothing to do with Vietnamese history.

taylor 2

“He chose to learn Vietnamese during the military training with the hope that the war will end before the two-year training finished. But the hope never came true because in 1970, he was sent to Vietnam…”

The article continues with the 1970-dissatisfied Taylor who was utterly discontented with the war, and the 1971-wounded Taylor who “was losing direction”.

The author suggests that continuing study on Vietnam, Taylor tried to find a new way of life and to break up with the miserable heritage of the past. Thus, Taylor utilizes the invented interpretation of Vietnamese history to act as counsel for the American tragic mistake, and to rescue himself from a guilty feeling that he has painfully lived with for a quarter of a century.

In another words, Taylor’s biographical events seems to be a perfect evidence to explain why he writes history in such way.

VẤN ĐỀ “HOẶC-HOẶC- MÀ KHÔNG PHẢI – TẠI SAO” TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

By Le Minh Khai

Sau khi viết post đưới đây về sự đánh giá lại Triệu Đà của Ngô Thì Sĩ, tôi ghé qua một trang Wikipedia tiếng Việt về “Vấn đề chính thống của nhà Triệu”.

trieu da

Trang web này đề cập vấn đề mà nhiều học giả Việt Nam đã thảo luận, đó là liệu có phải vương quốc mà Triệu Đà thiết lập ở cuối thế kỷ III TCN, Nam Việt, có thể được xem là một phần “chính thống” của các triều đại Việt Nam bắt đầu với nhân vật huyền thoại An Dương Vương trong thời kỳ xa xưa cho đến chính quyền Việt Nam thời hiện nay.

Đọc thông tin trong trang web này, điều làm tôi “bị kích thích” là “vấn đề này là một ví dụ tốt của vấn đề lớn hơn liên quan đến cách thức lịch sử Việt Nam được giảng dạy và thảo luận ở Việt Nam. Nói trắng ra, các sử gia Việt Nam nói về quá khứ như là “hoặc/ hoặc”, mà rất hiếm, hầu như không nói về “tại sao”.

Về vấn đề tính chính thống của Triệu Đà, một mặt trang web này nói rằng có một lịch sử lâu dài nhìn Triệu Đà như là một phần chính thống của quyền lực chính trị  Việt Nam. Lập luận này có lẽ khởi đầu bởi Lê Văn Hưu ở thế kỷ XIII và được nhắc lại bởi những người khác (Lê Tắc, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, các sử gia nhà Nguyễn, ect.,) cho đến tận thế kỷ XX (Trần Trọng Kim, Hồ Chí Minh).

Mặt khác, trang này cũng nói về thiểu số ý kiến trong thời kỳ sơ kỳ hiện đại, đề xuất bởi Ngô Thì Sĩ ở thế kỷ XVIII cho rằng Triệu Đà không phải thuộc dòng dõi chính thống của nền chính trị Việt Nam.

Sau đó, trang này nói rằng từ những năm 1960s, Triệu Đà dần dần bị xem bởi các sử gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (bắc Việt Nam) như là “kẻ thù xâm lược”.

Nói cách khác, ‘vấn đề” này là vấn đề của “hoặc-hoặc”,  “hoặc là “Triệu Đà thuộc dòng dõi chính thống Việt hoặc là không”.

Đối với tôi, vấn đề lớn hơn là tại sao không ai hỏi “tại sao”?

Tại sao Lê Văn Hưu hình thành ý tưởng rằng dòng dõi chính thống bắt đầu với Triệu Đà? Tại sao Ngô Sĩ Liên mở rộng dòng chính thống này đến tận nhân vật huyền thoại Kinh Dương Vương? Tại sao Ngô Thì Sĩ ngghi ngờ tất cả điều này? Tại sao khái niệm “kẻ thù xâm lược’ bắt đầu xuất hiện phổ biến vào những năm 1960s? Tại sao phần lớn các sử gia Việt Nam  ngày nay không đặt ra các câu hỏi này?

Đặt ra các câu hỏi như thế có thể giúp chúng ta vượt qua “hoặc-hoặc” và dẫn đến những hiểu biết sâu sắc hơn về quá khứ và xã hội loài người, cả quá khứ và hiện tại.

Vấn đề thực sự ở đây là không phải liệu Triệu Đà có thuộc dòng dõi chính thống hay mà chính việc chỉ đặt ra và trả lời câu hỏi này chính là “vấn đề”.

ở thế kỷ XX, các sử gia Việt Nam bị ám ảnh bởi câu hỏi “hoặc-hoặc” liên quan đến khái niệm “dân tộc”. Hoặc Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh thống nhất dân tộc? Hoặc Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh là kẻ phản bội hay là những nhà văn hóa.

Có hàng hà sa số các câu hỏi như thế mà các sử gia ViệtNam đã hỏi về quá khứ, nhưng về cơ bản chúng đều là “hoặc-hoặc”, và đều liên quan đến “dân tộc”.

Tại sao người ta không hỏi “tại sao”? Tôi luôn nghĩ rằng thông qua hỏi “tại sao” là điểm khởi đầu của mọi học thuật.

(Hamburg, 28.12.2015)

Source: https://leminhkhai.wordpress.com/2015/12/25/the-problem-of-either-or-but-not-why-in-vietnamese-history/

 

HỌC THUẬT TOÀN CẦU VÀ TỨ TRỤ TRIỀU ĐÌNH KHÁC CỦA GIỚI SỬ VIỆT NAM

Tôi nghĩ về một vài chủ đề mà tôi đã viết trước đây ở blog này: sự khuyến khích hội nhập của Việt Nam với nền học thuật toàn cầu, sự thiếu vắng của nỗ lực kết nối lí thuyết học thuật/ hay sử học từ bên ngoài Việt Nam vào một bộ phận các nhà sử học trong nước trong vài thập kỷ qua; và học thuật của các học giả miền nam Việt Nam như Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương và Lương Kim Định.

lichsu 1

Trong nửa sau của thế kỷ 20, có 4 học giả cùng nhau được ghi nhận là thiết lập nên lĩnh vực nghiên cứu sử học ở Việt Nam, những người được biết đến như là tứ trụ của học thuật lịch sử. Bốn người này đều bắt đầu sự nghiệp của mình ở miền bắc Việt Nam, và sau đó tiếp tục sau khi miền Bắc và miền Nam được thống nhất.

Trong khi thành tựu của họ thực sự đáng được ngợi ca, tôi càng đọc công trình của các nhà sử học khác từ khi Việt Nam bị phân chia, tôi càng nhận ra rằng có các nhà sử học khác cùng đáng nhận được sự công nhận như thế.

Thực tế, thêm vào bốn “tứ trụ” hiện tại, tôi có thể nghĩ đến ít nhất 4 người khác,  Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương, Lương Kim Định, Đào Duy Anh. Ba người đầu tiên sống và làm việc ở miền Nam Việt Nam, trong khi Đào Duy Anh sống và làm việc ở miền Bắc.

Bốn người này không làm việc cùng nhau, và điều tôi có thể nói là một vài trong số họ chắc chắn không phải bạn bè. Tuy nhiên, khi tôi đọc công trình của họ, tôi không thể trốn chạy khỏi câu hỏi nền học thuật lịch sử, đặc biệt là sơ sử ngày nay sẽ như thế nào nếu như bốn người này tạo ra một nền tảng cho các thế hệ sử gia tương lai.

lichsu 2

Khi nền thống trị thực dân ở Việt Nam đang đi đến hồi kết ở những năm sau chiến tranh thế gới thứ 2, các nhà sử học trên cả nước bắt đầu lao vào thử thách nhằm viết lịch sử mới của dân tộc. khi làm thế, họ có sẵn nửa thế kỷ học thuật được tạo ra thời thuộc địa, mà các công trình của họ được tạo dựng trên đó. Tuy nhiên không phải ai cũng làm thế.

Nhìn chung, các học giả từ miền bắc quay lưng lại với nền học thuật thực dân và tìm kiếm cảm  hứng từ mô hình sử học marxit mà họ tiếp nhận từ Trung Quốc hay Liên Xô. Vì thế họ cố gắng khắc họa khi nào Việt Nam trở thành một quốc gia dân tộc theo định nghĩa của Stalin về quốc gia dân tộc, và họ tìm kiếm xem khi nào Việt Nam đã có chế độ nô lệ, một giai đoạn mà sử học marxit xác định rằng tất cả các xã hội đều phải trải qua.

Những thí nghiệm này, tuy nhiên, không tồn tại được lâu, và vì thế, từ những năm 1960, sự cam kết với lí thuyết như thế bị bỏ rơi.

lichsu 3

Đối với tứ trụ khác của sử học Việt Nam, họ tiếp tục cam kết với nền học thuật từ thời thuộc địa. thực sự là sự nghiệp của Đào Duy Anh đã bắt đầu từ những năm 1930s, vì thế, về mặt lí thuyết chúng ta có thể coi ông là học giả của thời kỳ thuộc địa, tuy nhiên công trình của ông trong những năm 1940-50 đã dẫn ông đến một hướng khác, đặc biệt là khi ông tìm cách đọc xuyên qua các tư liệu gốc sơ sử để tìm kiếm các biểu tượng ý nghĩa chưa được công nhận. thêm nữa, Đào Duy Anh có thể đến với những ý tưởng như thế bởi vì ông không chỉ đọc được các tư liệu gốc (bằng tiếng Hán cổ) và còn đọc các ý tưởng được các học giả bên ngoài Việt nam tạo ra liên quan đến nhiều chủ, được viết bằng tiếng Pháp.

lichsu 4

Cả ba Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương và Lương Kim Định đều tham gia học thuật ở miền nam Việt Nam, và công trình của họ cũng thế, được xây dựng trên cơ sở của các nghiên cứu trước bởi các học giả thời thực dân. Tuy nhiên, tất cả họ đều tạo ra các ý tưởng original/ gốc/ nguyên bản… (need help for the translation of this one).

Từ một vài posts gần đây của tôi, rõ ràng là về mặt lí thuyết, Lương Kim Định là người cam kết mạnh mẽ nhất với học thuật phương tây. Ông thiếu thế mạnh của Tạ Chí Đại Trường là đọc từ liệu gốc một cách phê phán và đúng đắn, nhưng ông đã kết nối ở tầm rộng hơn, làm cho học thuật của ông trở nên dễ hiểu hơn đối với độc giả quốc tế.

Các công trình của Nguyễn Phương về sơ sử Việt Nam vào những năm 1960, cơ bản nhất trong đó là việc ông đi đến kết luận rằng về cơ bản không có Việt Nam cho đến tận thế kỷ thứ X. trong khi ông cho rằng sự nổi lên của Việt Nam nhờ vào quá trình dần dần di cư của các nhóm người từ China/ Trung Quốc, trong vài thập kỷ gần đây, các công trình của Tạ Chí Đại Trường liên quan đến sự sang tạo nên các câu chuyện sơ sử Việt Nam khoảng thế kỷ 14 chứng tỏ Việt Nam trẻ như là Nguyễn Phương đã lập luận vào những năm 1960s. Chỉ là sự thiết lập đó không phải dựa trên di cư, như Nguyễn Phương tin tưởng, mà là sự phát triển về văn hóa và xã hội.

lichsu 5

Các kết luận của Tạ Chí Đại Trường về sự thành lập của quốc gia trong lịch sử Việt Nam phản chiếu điều mà các học giả phương tây bắt đầu nói đến ở nhiều xã hội trong những năm 1980s-90s khi mà các chủ đề về bản sắc dân tộc và sự thành lập của các quốc gia bắt đầu trở nên phổ biến. Trong khi đó học thuật của Lương Kim Định liên quan chặt chẽ đến nhiều thế hệ lí thuyết học thuật ở châu Âu từ xã hội học, nhân học, ngôn ngữ học và Trung hoa học.

Học thuật của Đào Duy Anh là sản phẩm sớm hơn, trong một thời đại ít tính chất lí thuyết hơn, nhưng lại có thể dễ dàng đứng cạnh những nền học thuật tốt nhất được tạo ra ở các giai đoạn sau đó từ Hong Kong và Đài Loan, nơi các học giả cũng xử lí các tư liệu gốc theo những cách thức tương tự. và cuối cùng Nguyễn Phương đã phát triển một cách hợp lí các tri thức học thuật để đưa đến kết luận logic (ở thời điểm đó).

lichsu 6

Trong khi bốn học giả này đều khác nhau,điều kết nối họ chính là việc họ đều dựa vào các ý tưởng đã có sẵn đển đưa ra các ý tưởng mới về quá khứ. Quá khứ, trong nền học thuật của các học giả này, là “alive”/ sống/ sống động, vì họ đưa lại cho đọc giả cách nhìn mới về quá khứ, và đưa độc giả vào suy tưởng về những cách thức khác nhau để nghĩ về qua khứ.

Thực tế là trong thế giới ngày nay có nhiều “thế giới” học thuật khác nhau. Mục tiêu của học thuật không giống nhau ở bất cứ đâu. Tuy thế, ở một số nền học thật, mục tiêu là tìm ra những cách mới để nghĩ về một chủ đề nào đó, từ đó mà chúng ta có thể hiểu về nó tốt hơn, để làm được điều đó, kết nới với lí thuyết và nền học thuật trước đó là một nguyên tắc.

Đó là thế giới mà học thuật của Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương, Lương Kim Định và Đào Duy Anh hội nhập vào. Trong thế giới đó, họ cũng có thể chắc chắn được gọi là “tứ trụ”.

(My Vietnamese is getting awkward. What a shame)

source: https://leminhkhai.wordpress.com/2015/06/23/global-scholarship-and-the-four-other-pillars-of-history-in-vietnam/

 

 

TEA HISTORY IN VIETNAM: WHAT HAPPENED TO THE TEA CULTURE IN EARLY 20TH CENTURY?

Today, Tea is the most popular drinking stuff in Vietnam. And of course, it is my favorite, too.
Cheap, simple, and highly mobilized, teashops are available at any street corner in Hanoi. You just need a teapot, glasses, plastic seats, a space, and then ready to run your own business, one of the most sociable jobs in the world.
maxresdefault
As far as the memory of my grandmother’s generation, who was born in the late 1910s, tea already had significant role to play in the turn of the 20th century, culturally speaking. For wedding gifts or funeral events, tea is indispensible, of course, with Areca nuts and Betel.
09
I tried to come through some early materials, such as this documentary of a wedding ceremony, recorded by French sometime in the early 20th century.

However, I have not noted the use of tea of that much, at least in the rural area. So maybe I better check other earlier written sources, such as Pham Dinh Ho’s Vu Trung Tuy But (雨中隨筆: Following the Brush Amid the Rains), which for me unfortunately is beyond reach at the moment.
Untitleds
What I have, however, is an imperial record dated on the 18th day, 1st month of the Gia Long’s 5th year (1806) in which the court ordered General commander of the Northern citadel (Tổng trấn Bắc thành) to buy 1 or 2 can (600 grams to 1200 grams) of high quality Northern Tea (Chinese tea) and sent back to the capital city of Hue.

Untitled

<<旨頒欽差北城總鎮掌前軍平西大將軍郡公擇買北茶上好項叁斤或貳斤或壹斤以上差遞回進>>

From that Hue’s day in 1806 to the 1960s, tea drinking became increasingly popular, and mountains in northern Vietnam soon became the hub of tea production.
xanh-bat-ngat-doi-che-bao-loc-10.jpg
So what just happened during the colonial period? Does the French colonialism have a role to play like what it did with Phở and Bánh mì? Unlike the British, France is not a tea-drinking nation. Another possibility one can think of, is the introduction of tea plantations under the French projection just the same manner did the Dutch in East Indies. Records show that in 1684 the first tea was planted on Java by the Dutch using seeds obtained from Japan for the China tea bush cultivar. Scholarship on the field has done quite a lot on emerging of rubber and café plantations under the colonial economic projects, but none devoted to tea.
It must have gone through an extraordinary adventure, from an upper-class drink to the infusion of every class in the middle of the 20th century, and participated in making an essential cultural and social aspect of the modern Vietnamese daily life?
Now, it is the time for me to have a nice cup of tea.

tra_viet_400

Blog at WordPress.com.

Up ↑