AREA STUDIES APPROACH TO RESEARCH ON EARLY HISTORY OF SOUTHEAST ASIA: THE CASE STUDY OF SRIVIJAYA

Vũ Đức Liêm

 

Phần lớn các học giả đều cho rằng Việt Nam không có truyền thống nghiên cứu sử hàng hải mà minh chứng cho nó là việc tiếp cận vấn đề này khá dè dặt và hạn chế trong lịch sử. Thực tế là trong những năm gần đây, việc nghiên cứu chủ đề này đã được đẩy mạnh chủ yếu do sự “lên ngôi” của nó trong môi trường học thuật khu vực và thế giới. Do đó, nghiên cứu hải thương không còn là vấn đề quá mới mẻ ở Việt Nam, tuy nhiên, đã đến lúc cần thiết phải xác lập những cách thức tiếp cận có tính khu vực dành cho các chủ thể trong thế giới hàng hải Đông Nam Á vốn có nhiều sự khác biệt giữa thế giới hải đảo và lục địa.[2] Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu bước đầu rất đáng chú ý như sự ra đời của nhóm nghiên cứu “Thương mại châu Á”, các hội thảo về vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển khu vực cũng như sự định hình của các quan điểm mới liên quan đến cách thức tiếp cận đối với thương mại biển Đại Việt,[3] chúng tôi cho rằng điều này nên được đẩy mạnh hơn nữa và bài viết nằm trong nằm trong xu thế đó khi hướng đến cách tiếp cận khu vực học trong nghiên cứu về đế quốc thương mại Srivijaya trong thế giới Malay Đông Nam Á.[4]

Từ lâu, các nhà sử học, ngôn ngữ và nhân chủng đã cố gắng định hình không gian các mạng lưới trao đổi của người Nam Đảo/Austronesians với phạm vi không gian và thời gian khác nhau, gắn liền với các khu vực địa lý, văn hóa nhất định trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Sớm nhất trong số này và trùm lên không gian biển Đông Nam Á là mạng lưới Nusantao (NMTCN) bắt đầu từ 5000 TCN (Solheim: 1975, 2006: 57-140; Andaya 2008: 25). Khi các cộng đồng Malay Đông Nam Á được xác lập vững chắc và tạo dựng nên bản sắc cũng như nắm giữ vai trò nhất định trên các phân vùng thương mại khu vực thì người ta bắt đầu chú ý đến việc định dạng các không gian hải thương nhỏ hơn, gắn với chủ thể thương mại nhất định như không gian của thủy thủ Malay (Wolters 1967; Shaffer 1996), hay các mạng lưới tiểu vùng trong tương tác với hệ thống thương mại liên vùng: biển Java, biển Champa, biển Celebes, biển Sulu, biển Banda, khu eo biển Melaka. Gần đây nhất, một loạt các chủ thể thương mại hành hải khu vực đã được định hình. các học giả Việt Nam và thế giới đang cố gắng định hình khái niệm Đại Việt, Việt Nam, người Việt trong không gian thương mại biển Đông (Momoki Shiro 1998; Charles Wheeler 2001, 2006; John K. Whitmore 2006; Li Tana 2006; Hoàng Anh Tuấn 2008).[5] Pierre-Yves Manguin (1985), Roxana Brown and Peter Burn (1990), G.Wade (1993), Anthony Reid (1999), Micheal Vickery (2005) đề cập đến người Chàm trong thương mại biển Đông. Nghiên cứu của vợ chồng GS. Andaya (Hawaii University) đề cập đến vai trò của người Malay trong hệ thống thương mại eo biển từ đầu công nguyên cho đến cho đến thời tiền hiện đại (B.W. Andaya & L.Y. Andaya, 1983; L.Y. Andaya 2008). Việc phân lập vùng thương mại biển Đông Nam Á và sử dụng các khái niệm nhằm khu biệt phạm vi hoạt động của đối tượng nghiên cứu rõ ràng đã đưa lại những kết quả đáng chú ý hướng đến những khảo sát mới và toàn diện về các đối tác chủ thể trong thế giới hàng hải Đông Nam Á.

Ở đây, chúng tôi đề cập đến cách thức tiếp cận khu vực/Area Studies trong nghiên cứu lịch sử thương mại Đông Nam Á trước năm 1511 thông qua trường hợp (case study) của đế quốc thương mại Srivijaya (VII-XIII). Để thực hiện điều này, chúng tôi nhận thức sự cần thiết phải đặt đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể hàng hải thống nhất trong sự tương tác của nó với các yếu tố bên trong và bên ngoài/Inter-and intra-regional relations. Khi làm nổi bật tính chất vùng/khu vực của chủ thể, yêu cầu tất yếu là sự cần thiết phải xác định rõ các phạm trù phản ánh đặc thù về phạm vi địa lí, không gian phân bố hàng hải và hoạt động kinh tế, cũng như các yếu tố đặc trưng điển hình của không gian hàm chứa đối tượng nghiên cứu. Điều đó có nghĩa là các ranh giới về văn hóa, dân tộc, ngôn ngữ hay khu vực kinh tế… cần thiết phải được xác định một cách tương đối, đôi khi các đường biên ngôn ngữ và văn hóa này có thể chồng lấn hay vượt qua các ranh giới quốc gia. Trên cơ sở đó, tác giả hy vọng bài viết này sẽ giúp định hình các đặc trưng của đế chế thương mại Srivijaya nhìn từ thế giới Malay.

Austronesians và Thế giới Malay Đông Nam Á

Nam Đảo/Austronesia là thuật ngữ được các nhà ngôn ngữ học sử dụng để chỉ một tập hợp/gia đình ngôn ngữ mà nguồn gốc của nó còn là vấn đề tranh luận. Trường phái của Solheim cho rằng nguồn gốc của nhóm ngôn ngữ này từ duyên hải miền Trung Việt Nam khoảng 5000 năm TCN, trong khi theo P. Bellwood, xuất phát điểm của người Austronesian là đảo Đài Loan khoảng 4000 năm TCN (Solheim 2006; Peter Bellwood 1992, 1997, 2006, Andaya 2008: 19-21). Theo đó, trong khoảng từ 5000-7000 năm trước đây người Austronesian đã tiến hành hàng loạt các cuộc di cư mang theo kỹ thuật canh tác nông nghiệp, đóng tàu, chế tạo đồ gốm xuống phía nam và phát triển thành nhiều nhánh khác nhau trong suốt hàng nghìn năm. Austronesian được coi là nhóm ngôn ngữ đông đảo nhất, lớn nhất với khoảng 1000-1200 ngôn ngữ trong tổng số hơn 6000 ngôn ngữ hiện nay trên thế giới (Andaya 2008: 1). Theo các nhà nghiên cứu, người Austronesians đã tiến hành các cuộc di cư trên biển đáng khâm phục hàng nghìn năm, để trở thành ngữ hệ được trải rộng nhất trong thế giới tiền hiện đại. Chính họ đã đưa ngữ hệ của mình vượt qua 1/3 địa cầu và là những kẻ nổi bật nhất của biển và duyên hải, những người am hiểu gió và thủy triều, đóng thuyền với móc chèo. Và vì thế, họ buộc hàng nghìn hòn đảo và các vùng đất Âu-Á bao la kề cận với họ thành một mạng lưới quan hệ mậu dịch và liên lạc phụ thuộc lẫn nhau. Cũng chính người Austronesia trong hàng nghìn năm, giữ vai trò tiên phong gắn kết Đông Nam Á hải đảo vào mạng lưới mậu dịch toàn cầu trải dài trên phần lớn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rất lâu trước khi người Hoa hạ Tây Dương và người Châu Âu xuất hiện (A.Reid 1999; Belwood 2000, 2004, 2006; Lương Ninh 2008).[6]

srivijaya 0

Phân bố địa lí của ngữ tộc Austronesian (Bellwood & Eusebio Dizon 2008: 24)

Tiếng Malay là ngôn ngữ chính trong ngữ hệ Austronesia mà ngày nay đã trở thành chính thức ở Malaysia, Brunei; Indonesia và là một trong bốn ngôn ngữ được công nhận ở Singapore. Không gian của vùng địa lý cư trú của những người nói ngôn ngữ Malay được gọi là Thế giới Malay. Ngày nay, khu vực này bao gồm một cộng đồng trải dài trên khu vực hàng hải từ Papua (147007’Đ) ở phía Đông qua Indonesia, Malaysia, nam Thái Lan, đến Madagascar (47031’Đ) ở phía tây và ngược lên Philippines, Đài Loan (23046’B) ở phía bắc (A. Milner 2008:x). Tuy chỉ là một trong số hàng nghìn ngôn ngữ thuộc nhóm Austronesian, tuy nhiên, Malay đóng vai trò rất quan trọng vì nhiều lí do: Thứ nhất, là ngôn ngữ có số người sử dụng đông nhất trong ngữ hệ Austronesia với khoảng 350 triệu (Peter Bellwood 2004: 25; Anthony Milner 2008:2). Thứ hai, phạm vi của nhóm ngôn ngữ này phân bố rộng, có vị trí chiến lược vắt qua hai đại dương, dọc theo lục địa Á-Âu, phản ánh dấu ấn của sự lưu truyền và kết nối nhiều thành tựu văn hóa, văn minh trong lịch sử nhân loại và cũng chính nhóm người này đóng vai trò lớn trong nhiều biến cố lịch sử. Thứ ba, tính năng động và hăng hái trên biển của người Malay được dẫn dắt bởi các nhóm người Biển.[7]

Các nhóm người Biển/Orang Laut là bộ phận giữ vai trò quan trọng trong các mối giao thương Đông Nam Á như là bộ phận tiên phong của thế giới Malay. Có ba nhóm người Biển rất đáng quan tâm trong sự hưng thịnh của thế giới Malay thế kỷ VII-XIII:

  1. Người Moken và Moklen ở quần đảo Mergui của Myanmar kéo dài xuống các đảo tây nam Thái Lan.
  2. Người Orang Laut cư trú tại khu vực quần đảo và cửa sông Riau-Lingga, quần đảo Bantam chạy dọc theo vùng duyên hải đông Sumatra, Singapore đến tận phía nam của Johor. Ở phía tây bắc, có một nhóm nhỏ khác những người Orang laut được gọi là Urak Lawoi chiếm giữ khu vực hàng hải từ Phuket đến nhóm đảo Adang, gần tiếp giáp với khu vực của người Moken-Moklen.
  3. Người Sama-Bajau, là nhóm người biển lớn nhất, cư trú trên diện tích khoảng 1.25 triệu dặm vuông trải dài từ nam Philippines, đông đảo Borneo và Sulawesi, kéo dài xuống nam và đông nam tới các đảo đông Indonesia, tận Flores và nam Moluccas (P. Bellwood, James J. Fox, Darell Tryon, 2006: 256-257).

Do sự thúc đẩy buôn bán và nhu cầu trao đổi gia tăng, các nhóm người Biển đã liên kết với nhiều cộng đồng bản địa trên bán đảo Malay và quần đảo Indonesia. Trên cơ sở đó, một loạt các nhà nước cảng thị/city-states ra đời mà cơ sở liên minh tộc người có thể được định hình như cột trụ của sự tồn tại này: các nhóm người Rừng (Orang Glai) hay người miền Núi với các cộng đồng duyên hải, ven cửa sông và các nhóm người Biển. Khối liên minh này, mới nhìn qua giản đơn tưởng như là các khâu của một chu trình thương mại và phân phối hàng hóa khép kín dọc theo các hệ thống trao đổi ven sông đã được Benet Bronson đề xuất và K.R. Hall tán đồng (B. Bronson 1977, K. Hall 1985), nhưng thực tế, bộ máy đó vận hành chặt chẽ, hiệu quả như những đế chế đảo (D.G.E. Hall 1955) và các nhóm dân có vai trò rất phức tạp xoay quanh việc vận hành một hệ thống thương mại trải dài trên hàng chục nghìn cây số vuông với sự tham gia của nhiều nhóm người khác nhau mà ngày nay, thậm chí với chúng ta vẫn là vấn đề khó.

Các nghiên cứu về cộng đồng Orang Laut thế kỷ VII-XIII chỉ ra phạm vi hoạt động rộng lớn, cuộc di cư quy mô, cũng như hoạt động mạnh của họ trên các vùng biển Đông Nam Á từ Philippines đến vịnh Thái Lan và khu vực quần đảo Indonesia. (Clifford Sather 2006: 245-285, Andaya 2008). Chính họ là một trong những nhân tố góp phần định hình nên các trung tâm thương mại lớn đầu tiên của khu vực hải đảo cũng như tạo cơ sở cho giai đoạn được coi như là kỷ nguyên sớm của thương mại Đông Nam Á 900-1300 (K. Hall 1992: 252; G.Wade 2006). Adri Lapian (Jakarta) và Kathirithamby-Wells (Kuala Lumpur) còn đi xa hơn nữa khi tán dương họ như những nhóm người đã góp phần giúp tạo lập ra thế giới Đông Nam Á hiện đại thông qua việc làm trung gian giữa các nhóm sắc tộc phân bố trên không gian rộng lớn với tư cách là những nhà mậu dịch, những người đi biển, người hành hương, học giả, những kẻ phiêu lưu và binh lính (A. Reid 1999: 40).

Chính vai trò của các nhóm người Biển và sự tương tác, lệ thuộc lẫn nhau giữa các cộng đồng Malays đã tạo nên cơ cấu linh động trong cấu trúc của xã hội của họ, điều mà thế giới nông nghiệp lục địa cảm thấy xa lạ. A. Reid và K.R.Hall là  những người đã cỗ vũ cho tính đa tầng (multicity) và lưu động (mobility) của thế giới Malay Đông Nam Á khi mô tả rằng việc vạch ra các ranh giới khu vực hoạt động của họ thời kỳ sơ sử là vấn đề khó khăn (A. Reid 1999:39). Rõ ràng, nếu xuất phát từ tư duy và thế giới quan của các xã hội nông nghiệp đơn thuần, chúng ta sẽ khó có thể hiểu biết thấu đáo về các đặc trưng của thế giới Malay, những người mà “sự can dự trong thương mại đường biển chắc chắn là một trong những chủ điểm đã duy trì một cảm thức về đặc tính chung của người Austronesia, nhưng trong một khung cảnh văn hóa đa dạng” và những mô thức chính trị, quan hệ xã hội đầy tính linh động (A.Reid 1999).

Tổ chức chính trị của Srivijaya

Nhiều thế hệ các học giả về lịch sử Đông Nam Á từ G. Coedès (1968), J. G. de Casparis, R.C Majumdar, N. Sastri, D.E.G. Hall, P. Wheatley, O. W. Wolters, K. R. Hall, P.Y. Manguin, H. Kulke, J.W. Christie… đã cố gắng đã cố gắng mô hình hóa cơ cấu chính trị của thể chế Srivijaya từ những nguồn tư liệu ít ỏi của bi ký, văn bản Trung Hoa, Arab đương thời và gần đây nhất là khảo cổ học.

Phần lớn cứ liệu rõ ràng nhất về chính thể Srivijaya liên quan đến 6 tấm bia thế kỷ VII trên đảo Sumatra và thông tin từ sử Trung Hoa. Đã có một số ý kiến từng hoài nghi về sự tồn tại liên tục và thống nhất của Srivijaya từ chính những tấm bia này (B. Bronson 1973, H. Kulke 1993:159), song, những thập kỷ gần đây, nỗi nghi ngờ đó đã nhanh chóng bị xóa tan bởi nhiều cứ liệu lịch sử phong phú và vững chắc. P. Wheatley (1961) dựa chủ yếu trên các mô tả Trung Hoa để phác họa lại cấu trúc chính trị của Panpan và Chihtu với các tước hiệu và cấu trúc từ ý niệm vương quyền Trung Hoa với nhà vua đứng đầu một bộ máy quan chức trung ương và địa phương, với các hoàng tử được cử đi trấn trị và bốn viên bộ trưởng sa-to-chia-lo, to-na-ta-yu, chia-li-mi-chia, chu-lo-mo-ti quản lí các lĩnh vực (Wheatley 1961:28-29,49; J. Kathirithamby-Wells & John Villiers 1990: 75-76).

K.R. Hall trong nghiên cứu về nhà nước và chính quyền của Srivijaya đã mô phỏng quan điểm của mình về hệ thống chính thể này như là nhóm liên minh của các cảng thị, trong khi vương quyền Srivijaya thì theo những mô thức của chế độ thủ lĩnh truyền thống (1976: 79,92; 1985: 78-102). Ông chủ yếu phác thảo nhà nước Srivijaya dựa trên bia Telaga Batu (686), điều làm nhiều người hoài nghi vì sự ngắn gọn và tính chất tôn giáo của tư liệu. Theo đó, ở trung tâm Palembang là nhà nước vương quyền truyền thống Malay, trong khi, càng đi xa khỏi hạt nhân chính trị, tính chất nhà nước mất dần, không rõ mà chủ yếu là những vùng ảnh hưởng hay các liên minh cảng thị dựa trên lợi ích thương mại và sức ép quân sự.

srivijaya 1

Một học giả khác, Wolters trong “Lịch sử, văn hóa, vùng trong viễn cảnh Đông Nam Á” đã cố gắng định hình nên lí thuyết tản quyền mandalas, được vay mượn từ triết học và tôn giáo Ấn Độ, cho các chính thể Đông Nam Á sơ kỳ mà ở đó, Srivijaya được mô tả là một mandalas vĩ đại, điển hình: “sự bất định nổi tiếng về khoảng cách địa lí và cá tính chính trị của nó là một thí dụ nổi bật về bản chất vô định hình của các mô hình thu nhỏ mandalas vĩ đại trong lịch sử Đông Nam Á trước đây” (Wolters 1999:17, 32; Lương Ninh 1998; Rosita Dellios 2003).[8]

Các quan điểm này đều được chấp nhận ở những mức độ nhất định và tạo ra ảnh hưởng rất sâu rộng đến nhiều học giả khu vực mà một trong số đó là các nhà nghiên cứu trẻ Việt Nam, những người có xu hướng áp dụng mẫu hình mandalas cho phần lớn nền chính trị Đông Nam Á truyền thống. Các nghiên cứu gần đây, bao gồm cả Victor Lieberman đã tỏ vẻ hoài nghi sức mạnh và quyền kiểm soát thực sự của Srivijaya. Dù thừa nhận rằng đó là đế quốc hùng mạnh nhất của khu vực quần đảo trước năm 1400, song ông so sánh nó với Cantoli (xem Wolters 1967) ở giai đoạn trước và đế quốc Bồ Đào Nha thời cận thế rằng: Srivijaya không phải là một đế quốc bành trướng lãnh thổ mà là một đế quốc chiếm giữ các điểm chiến lược trên các tuyến thương mại chủ đạo (Lieberman 2009: 772).  Một số người khác cố gắng điển hình hóa một vài đặc điểm nào đó của các thể chế Đông Nam Á sơ kỳ như luận điểm về các biên giới mềm trong tương tác chính trị Đông Nam Á truyền thống (Thongchai Winichakul 1994) hay nhìn nhận các đế quốc sơ kỳ như Srivijaya được tổ chức và vận hành như một liên minh/ đế quốc sắc tộc (Clive J. Christie 1996). Tuy nhiên, có hai điều đang tác động các quan điểm này theo những chiều hướng khác nhau.

Thứ nhất, quan điểm của học giả Đức H. Kullke, người từng ủng hộ mô hình mandalas của Wolters (1986), đã tiến thêm một bước nữa (1993) trong nỗ lực gắn kết ý tưởng mandalas, mô hình “vòng tròn các ông vua” với nền chính trị truyền thống Malay. H. Kulke đã lên tiếng cho rằng trong nhiều thập kỷ, các học giả mẫu mực như Hein-Geldern, G. Coedès (1968), R.C. Majumdar, L.P.Briggs (1950) đã suy tưởng một cách quá dễ dãi các bi ký Đông Nam Á khi vẽ ra các nhà nước tập quyền. Và rằng: các sử gia hiện đại đã trở thành nạn nhân của một âm mưu nham hiểm thực sự của các triết gia và sử gia Trung Hoa, Ấn Độ thời cổ và các bản ghi chép chính thức nhằm che dấu sự thực lịch sử bởi vì người ta biết rõ rằng các nhà triết học Ấn Độ và đồng sự cùng thời của họ ở Đông Nam Á phác họa lí thuyết sastric về nhà nước, trong khi các nhà thơ cung đình và người soạn văn bia chỉ chú ý đến việc vận dụng nghệ thuật ngôn từ sao cho tinh tế. Do đó, không ai trong số này quan tâm đến việc mô tả một cách chi tiết cấu trúc thực sự của nhà nước cũng như các đường biên giới thật của nó. Mặt khác, các quan chức Trung Hoa/hung lu ssu phụ trách đón tiếp sứ thần nước ngoài và ghi chép về các quốc gia này chắc chắn có quan tâm đến tình hình cụ thể của “các nước mọi rợ phương nam”. Nhưng báo cáo của họ trình lên hoàng đế và cung cấp cho các nhà chép sử đã được chuyển hóa theo phong cách văn phong chính thức và thấm nhuần sâu đậm bởi ý niệm quốc gia tập quyền Trung Hoa (H. Kulke 1986: 2).

Khi đặt mô hình mandalas trên nền tảng chính trị Malay truyền thống, thách thức đầu tiên và quan trọng mà H. Kulke phải đối mặt là sự luận giải về tư tưởng vương quyền trong tấm bia Telaga Batu mà chính ông phải thừa nhận: “trước tiên, phải thừa nhận rằng (danh sách quan chức từ tấm bia) phản ánh sự phát triển cao và chặt chẽ của hệ thống chính quyền. Srivijaya xuất hiện như một nhà nước hùng mạnh và tổ chức tốt. Điều này càng được củng cố nếu ta đọc các bản dịch văn bia sử dụng các khái niệm như “royame”, “kingdom”, và thậm chí “empire”. Ý tưởng của Kulke là ở chỗ ông tìm cách lí giải các chức danh từ tấm bia dưới ánh sáng của mô hình tản quyền để đi đến kết luận đầy hoài nghi rằng: có chăng sự tồn tại của một trung tâm quyền lực tập trung và duy nhất của maharaja Srivijaya? Việc đánh đồng ý niệm “vương quyền truyền thống” với cấu trúc mandalas đã thách thức các nỗ lực học thuật công phu của K.Hall và sơ đồ quyền lực của ông (1985). H. Kulke đã đưa ra sơ đồ các vòng tròn của nhà nước tản quyền Sriviajya dưới đây và cho rằng sự luận giải về một mô hình tập quyền của những người đi trước là sai lầm.

srivijaya 2

Theo đó, mô hình chính trị Srivjaya theo quan điểm của H. Kulke dựa trên các tấm bia từ thế kỷ VII được phỏng theo đúng lí thuyết “vòng tròn của các vị vua” (H. Kulke 1986:3, 1993:172)  hoặc được gọi với tên khác là “mô thức đa trung tâm triều đình Kraton/kadatuan”. Theo đó, Srivijaya là một tập hợp của các mandalas, đứng đầu mỗi mandalas chư hầu là một thủ lĩnh Datu và tất cả đều phục tùng mandalas tôn chủ của Maharaja, người mang trong mình ý niệm vương quyền Ấn Độ. A. Reid có vẻ như ủng hộ sự giải thích mới này và coi các chính thể đa trung tâm là cơ cấu chính trị của không gian Austronesia khi ông áp dụng nó cho người Chàm (A. Reid 1999: 49). Quan điểm của H. Kulke chắc chắn sẽ còn phải tiếp tục bàn luận vì nó đã làm lúng túng cả những người ủng hộ cũng như phản đối mô hình tản quyền. Điều này đã nhanh chóng được thể hiện thông qua một công trình gần đây của M. Munoz (2006) khi ông chỉ ra 4 điểm quan trọng mà mô hình Srivijaya tạo nên sự khác biệt rất căn bản với lí thuyết mandalas truyền thống do Wolters và Kulke xây dựng (xem Munoz 2006: 120, D.G.E Hall 1997; Nguyễn Văn Kim 2008). Trong khi quan điểm của một số học giả khác tìm các luận giải về những điểm khác biệt này với tính cách của một thời kỳ chuyển giao mà ở đó, Srivijaya nằm trong giai đoạn trung gian của quá trình hình thành nhà nước, một chính thể ở giữa mandalas và đế chế (Ngô Văn Doanh 2009:6).

Thứ hai, nghiên cứu liên ngành, đặc biệt là khảo cổ học và dân tộc học liên quan đến các mạng lưới trao đổi kinh tế của thế giới Malay đã thách thức việc đơn thuần áp đặt mô hình chính trị và tư tưởng vương quyền từ bên ngoài vào khu vực này (Chúng tôi sẽ làm rõ không gian của các quan hệ kinh tế trong thế giới Malay và tác động của nó ở phần sau). Các dấu tích khảo cổ học những năm 70 trở lại đây hé lộ nhiều di chỉ quan trọng của các nhà nước sơ kỳ ở cả Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Trong phạm vi không gian thế giới Malay chúng ta đang khảo sát, đáng lưu ý là Phù Nam (Miriam T. Stark 2004, 2006, 2008), bán đảo Malay (Ian Glover 1989, M. Jacq-Hergoualc’H 2002, Dougald J. W. O’Reilly 2007), Srivijaya (J.N.Miksic, E.McKinnon, P.Y.Manguin, Satyawati Suleiman…). Bản thân các phát hiện mới này cũng gây ra sự luận giải theo những xu hướng khác nhau. Những người ủng hộ cơ cấu tản quyền thì tuyên bố rằng đó là biểu hiện của “một khuôn mẫu vô cùng khác biệt của các khu định cư đa cấp và của các trung tâm chuyển đổi”-một biểu hiện của các xã hội đa trung tâm dựa trên các liên hiệp tạm thời và mong manh (A. Reid 1999:49).[9] Mặc dù vậy, các ví dụ đưa ra của Phù Nam, Angkor, Majapahit là chưa thực sự thuyết phục, nhất là trong bối cảnh các khai quật khảo cổ gần đây. Dự án khảo cổ LOMAP ở trung và hạ lưu sông Mekong đã chỉ ra sự tập trung và ổn định của một kinh đô duy nhất Angkor Borei (Miriam T. Stark 2004, 2006). Sự chuyển dịch kinh đô của Campuchia trước khi đến Angkor không phản ánh xu thế đa trung tâm mà là sự dịch chuyển của một trung tâm, còn kinh đô/hạt nhân của Srivijaya thì chưa bao giờ ra khỏi đông nam Sumatra (P.M.Munoz 2006: 153-4). Vì thế, việc dựa trên các dấu tích khảo cổ để luận giải về mô hình chính trị Srivijaya cần tiếp tục có những nghiên cứu sâu rộng và thận trọng hơn.

Thực tế, đã không có những điểm chung giữa nhận thức của các học phương Tây với một số nhà nghiên cứu Việt Nam xung quanh chủ đề này. Một bên, có vẻ như đã đi quá xa trong việc mô tả tính linh động, tính lỏng lẻo và tính phân tán, trong khi ở một thái cực khác, một số lại chịu ảnh hưởng của các xã hội nông nghiệp truyền thống và mô hình phương Đông để đi đến phủ nhận mandalas mà thực chất là những đặc trưng vương quyền riêng có của thế giới Malay. Điều cần thiết, như luận đề của chúng tôi, là phải đặt thực thể Srivijaya trong không gian văn hóa, chính trị và quan hệ kinh tế của thế giới Malay. Quan điểm của chúng tôi cho rằng không nên coi các chính thể Đông Nam Á truyền thống theo những cách thức dập khuôn cứng nhắc theo mô hình Ấn Độ hay kiểu cơ chế mandalas vì điều đó đồng nghĩa với việc khoác lên mình tất cả cái áo của yếu tố ngoại lai trong khi cố tình quên đi sự hiện hữu các yếu tố bản địa trong cơ cấu và sự vận hành của nó. Srivijaya nên được xem xét là một phức hợp chính trị xen kễ giữa các yếu tố Ấn hóa và cơ cấu chính trị truyền thống của thế giới Malay dưới tác động của các mạng lưới thương mại phức tạp song được tổ chức rất chặt chẽ. Một trong các điểm đáng lưu ý của nó là thuộc tính về sự Ấn Độ hóa không đều, càng vào sâu nội địa như khu vực Minangkabau hay miền núi của bán đảo Malay thì ảnh hưởng Ấn Độ suy giảm, và đó là nơi mà truyền thống của các thủ lĩnh Malay được bảo tồn. Rõ ràng việc luận giải về cơ cấu vương quyền Malay truyền thống theo cách của K. Hall (1985) có vẻ hợp lí hơn so với nỗ lực tìm cách đồng nhất cơ cấu này với mẫu hình tản quyền của H.Kulke (1993).

Có sự đa dạng của các tư liệu lịch sử phản ánh rõ tính chất vương quyền Ấn Độ và tính chất vương quyền Malay song hành trong nền chính trị Srivijaya. Ghi chép của nhà sư hành hương Nghĩa Tĩnh và kết quả nghiên cứu của Manguin 1992-1993 cho thấy chính liên minh của các thủ lĩnh địa phương Malay là cơ sở thiết lập nên thể chế này (Kenneth R. Hall 1992:197; Paul Michael Munoz 2006: 117). Sự vận hành của hệ thống quyền lực này phản ánh rõ tương tác của tư tưởng vương quyền Ấn Độ đối với xã hội Malay. Danh hiệu của nhà vua/maharaja được gọi theo tiếng Sanskrit, nhưng tên các chức quan thì phần lớn gọi theo tiếng Malay (Paul M. Munoz 2006: 124-125). Quyền lực của nhà vua được đề cao theo đúng như những nghi lễ có nguồn gốc Ấn Độ, tiêu biểu trong số này là lễ hội thề nước (Bia Telaga Batu) được khắc trên tấm bia có hình rắn Naga 7 đầu và Yoni.[10] Nhưng mặt khác, nhà vua Srivijaya vẫn duy trì các yếu tố biểu trưng của vương quyền trong thế giới Malay. Ghi chép của người Arab đương thời và các truyền thuyết dân gian cho thấy nhà vua được đồng nhất với các vị thần trong tín ngưỡng bản địa Malay là thần núi Ulu và thần nước Tandrun Luah (bia Kotakapua, Bangka). Các nhà địa lý Arab gọi vua Srivijaya là “Vị thần của nước trên đại dương”, “vua Núi”, “Maharaja của các hòn đảo”, và nhà vua có thể dùng bùa chú để sai khiến cá sấu giúp thuyền bè qua lại các cửa sông. Nhà vua còn được coi là người mang lại sự giàu có và thịnh vượng cho hòn đảo. Chao Ju-kua từng ghi rằng: “Vào một ngày nhất định trong năm, vua Srivijaya không được ăn hạt ngũ cốc vì nếu không trời năm đó sẽ hạn hán và mất mùa… Nhà vua Srivijaya phải tắm rửa bằng nước nhuộm hồng nếu không lũ lụt sẽ cuốn trôi làng mạc trong vương quốc của ông” (K. Hall 1985: 84-85).

srivijaya 3

Sự tồn tại của một vương quyền trung ương tập trung không hề mâu thuẫn với quan hệ thủ lĩnh và sự thần thuộc theo kiểu truyền thống của các cộng đồng Malay thuộc các khu vực xa trung tâm cảng thị. Cơ cấu song hành này rất dễ khiến nhiều người nhầm lẫn theo những thái cực khác nhau. Dễ nhận thấy, do hạn chế giao thông, nhân lực, càng xa hạt nhân Palembang, nhu cầu quản lí lãnh thổ và cư dân có vẻ như càng mờ nhạt, nơi mà chất keo kết dính chính là “sự bảo trợ, lòng trung thành và sức mạnh” cùng với nhu cầu gắn kết các tuyến thương mại (điều này rất khác biệt với các xã hội nông nghiệp lục địa) (K. Hall 1985: 79). Thêm nữa, càng xa trung tâm, tính chất vương quyền kiểu Ấn Độ càng mờ dần, nhất là sâu trong nội địa bắc Sumatra, vùng miền núi nhiều vàng Minangkabau và thượng nguồn các sông Musi và Batang Hari. Có thể, K. Hall đã nhìn thấy điều này và mô tả nó như các lãnh thổ loại II, và bán đảo Malay-khu vực kiểm soát không thường xuyên như là lãnh thổ loại III của Srivijaya (K. Hall 1985: 79).

Srivijaya mang những nét tiêu biểu của một thực thể chính trị thuộc thế giới hải đảo Đông Nam Á chứ không đơn thuần là sự phản ánh các ý niệm vương quyền được vay mượn từ bên ngoài. Từ các tước hiệu cho đến hình thức tổ chức và cơ cấu vận hành phản ánh một phức hợp chính trị giữa các yếu tố Ấn Độ với cơ tầng chính trị truyền thống của thế giới Malay dưới tác động của các mạng lưới thương mại. Cơ cấu chính trị của Srivijaya đương nhiên phải phản ánh tính linh hoạt và cơ động vì bản thân nó chịu tác động trực tiếp từ cơ cấu kinh tế dựa trên trao đổi liên tục giữa các nhóm cư dân. Chính sự thương mại hóa các cộng đồng kinh tế trong thế giới Malay quyết định cách thức hoạt động của các trật tự trong hệ thống (dù là liên minh thương mại hay là dưới sức ép của một quyền lực chính trị). P. Wheatley (1961), Nik Hassan Shuhaimi bin Nik Abdul Rahman (1990), K. Hall (1985), H. Kulke (1993) đã cố gắng đưa ra các ví dụ được mô hình hóa về thể chế chính trị sơ kỳ ở bán đảo Malaya và quần đảo Indonesia. Nhưng các tư liệu ít ỏi mà chúng ta biết được, một vài tên gọi hay các nghi thức thần thánh được mô tả lại chưa chắc đảm bảo cho sự khôi phục đúng bộ máy nhà nước chứ chưa nói gì đến vạch ra được cơ cấu vận hành hợp lí của nó. Ý tưởng của K. Hall về một vương quốc Srivijaya tập quyền theo chế độ thủ lĩnh Malay truyền thống có vẻ lạc lõng trong bối cảnh quan điểm tản quyền của Wolters được chấp nhận rộng rãi, đặc biệt là từ sau hội nghị Canberra (1986). Tuy nhiên, rõ ràng là quan điểm của K. Hall có cơ sở cứ liệu vững chắc của nó, nhất là khi đặt Srivijaya trong khung cảnh các quan hệ chính trị và kinh tế của thế giới Malay.

Các mạng lưới trao đổi trong phạm vi đế quốc Srivijaya

Thật khó để có thể hiểu biết đúng đắn về thể chế Srivijaya nếu như không hiểu được cơ cấu các quan hệ kinh tế của vương quốc này mà trung tâm điểm là các mạng lưới thương mại. Các nghiên cứu về lịch sử kinh tế Đông Nam Á sơ kỳ đương nhiên đã không bỏ qua điều này (Van Leur 1955; J.N. Miksic 1979, 1985; Bennet Bronson 1977; K. Hall 1985, 1992; G. Wade 2006, L.Y. Andaya 2008), nhưng sẽ rất thú vị nếu như chúng ta đặt Srivijaya trong bối cảnh rộng lớn hơn của không gian kinh tế thế giới Malay. Theo đó, toàn cảnh kinh tế của Srivijaya là sự kết nối của hai mạng lưới: Hệ thống trao đổi ven sông và mạng lưới ven biển.

Không gian kinh tế ở Đông Nam Á hải đảo đưa lại những đặc điểm rất khác lạ so với khu vực lục địa, nơi mà các yếu tố của sự giao lưu đã trở thành một thuộc tính. Các học giả chuyên nghiên cứu về lịch sử kinh tế, thương mại Đông Nam Á cho đến thời tiền hiện đại như Van Leur, Wolters, Bennet Bronson, Solheim, K.Hall, A. Reid, Momoki Shiro, Ian Glover, P.Y. Manguin, J.W. Christie, J.N. Miksic, E. E. Mckinnon, Jacq-Hergoualc’H, Stephen Oppenheimer, Bellwood, B.W. Andaya, L.Y. Andaya… đã cố gắng định dạng các đặc trưng kinh tế Austronesia trong công trình của mình. Thực tế, ngoại trừ miền trung đảo Java và đông nam Sumatra (K. Hall 1985, 1992; J.W. Christie 1986: 65-94, J.G. de Casparis 1986: 49-64), phần lớn khu vực hải đảo Đông Nam Á không tồn tại mô hình sản xuất nông nghiệp đặc trưng và điều này ảnh hưởng đến cách thức vận hành các hệ thống kinh tế của Srivijaya. Bennet Bronson cho việc thiếu các đồng bằng và đất canh tác “không cho phép việc phát triển các xã hội nông dân thực thụ, nơi mà sự thịnh vượng gắn liền với các cộng đồng nông nghiệp đông đảo, làm thủy lợi, kiểm soát nhân khẩu còn thương mại ở vai trò thứ yếu” (B. Bronson 1977: 45; A. Reid 1999: 39-43; K. Hall 1985: 79-102, 1992: 196-202; J.N. Miksic 1979, E. E. Mckinnon 1984)

Nhân tố điều kiện tự nhiên và những truyền thống tộc người góp phần lớn vào việc định hình truyền thống kinh tế của cộng đồng Malay. Thay cho mô thức quan hệ trong xã hội nông dân ở vùng lục địa giữa các cộng đồng xóm làng, khu vực hải đảo nổi lên vai trò tương tác giữa cộng đồng Hinterlands/người miền núi, cao nguyên và Hinterseas/người trên biển, ven biển. Trong tiếng Malay đó là quan hệ giữa Bangka-hulu/bờ bên kia, những người từ biển đến và Bengkulu/phía bên kia của đảo (Dương Duy Bằng 2005: 46). Ở mức độ nhất định, điều này phản ánh sự phân công lao động và phân công vai trò kinh tế dựa theo các khu vực tự nhiên giữa nhóm người Biển/Sea Nomads và cộng đồng săn bắn trên vùng rừng núi (Rainforest Hunter-Gatherers) vì các hòn đảo phong phú về các hàng hóa đặc thù, chẳng hạn như gia vị, hương liệu và dược liệu không thể tìm thấy ở nơi nào khác. Ngoại trừ đông nam Sumatra và trung Java, các vùng đất còn lại chỉ màu mỡ với một đặc sản duy nhất và khô cằn với mọi sản phẩm khác. Do đó, loại đặc sản mà các đảo này tràn ngập phải lãnh nhiệm vụ cung cấp cho nó mọi sản phẩm khác từ các đảo và cộng đồng khác. Điều này giải thích tại sao các loại hàng hóa, thực phẩm khác thì có giá trị, còn sản phẩm của mình thì rẻ và cư dân các hòn đảo luôn bị ràng buộc trong việc duy trì sự giao thiệp liên tục với các nhóm người khác (Reid 1999, C. Sather 2006).  Lịch sử của các hoạt động trao đổi này có từ rất sớm, gắn với quá trình hình thành và mở rộng của người Austronesia (S. Oppenheimer 1999; Wilhelm 2006) cho đến tận thời kỳ gọi là “kỷ nguyên thương mại” (A. Reid 1988-1993).

Mặt khác, thế giới Malay Đông Nam Á nằm ở ngã tư đường giao thương, truyền thống hàng hải và truyền thống giao thương, giao lưu quốc tế đã gắn liền với đời sống của họ hàng nghìn năm, trở thành một phần trong truyền thống của họ. Khi những người Châu Âu đến đây vào thế kỷ XVI-XVII, ghi chép của họ đã phản ánh điều này. François Pyrard (1578-1623) nhà hàng hải Pháp năm 1619 mô tả: nguyên cả miền phản ánh một sự lệ thuộc/interdependence lẫn nhau đến nỗi các dân tộc này bị bó buộc phải duy trì sự giao tiếp liên tục với một dân tộc khác, nhóm dân này cung cấp những gì nhóm dân kia không có. Điều rõ ràng là các hải cảng trên bán đảo Malay, bắc Sumatra và quần đảo hương liệu Maluku (Ternate, Todore) hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào số gạo nhập cảng, việc mà chúng có thể dễ dàng trả tiền/ trao đổi thông qua hoạt động xuất cảng và mậu dịch (A. Reid 1999: 217-234, L.Y.Andaya 2008:2).

Với tư cách là đế quốc thương mại khu vực (VII-XIII), Srivijaya rõ ràng là đứng ở trung tâm của mạng lưới trao đổi của người Malay Đông Nam Á thông qua sự gắn kết các nhóm cư dân lục địa và hải đảo (Andaya 2008: chương 2. Sự hưng khởi của Malayu). Ngay từ khi đưa ra mô hình về hệ thống trao đổi ven sông, Bennet Bronson đã kỳ vọng nó sẽ giúp ích cho các nhà sử học và khảo cổ học có thể lí giải nhiều vấn đề của các thể chế ven biển Đông Nam Á, trong đó đặc biệt chú ý đến chức năng chính trị và kinh tế của mạng lưới này mà ở đó, sự liên hệ về kinh tế gắn liền với sự phụ thuộc và gắn kết về chính trị cũng như quy định cơ cấu vận hành của mạng lưới. (Bennet Bronson, 1977:39,44)[11]

srivijaya 4

A – là trung tâm tọa lạc ở vùng cửa sông

B và C – là các trung tâm cấp 2 và cấp 3 tọa lạc ở vùng thượng nguồn

D – là trung tâm xa nhất thuộc thượng nguồn, nơi thu thập đầu tiên các sản phẩm bản địa, cũng chính là đầu mối đầu tiên của mạng lưới thu gom hàng hóa đưa tới A.

E,F-Những người sản xuất/thu hoạch trực tiếp sản phẩm, cư trú phân tán trong tình trạng chưa hình thành thị trường mà các hàng hóa của họ có xu hướng được thu hút vào hệ thống của A

X – Thị trường chính bên ngoài, nơi tiêu thụ các sản phẩm chính xuất khẩu từ A và cung cấp chính cho các hàng hóa mà A nhập khẩu. (B. Bronson 1977:43).

Theo sơ đồ cấu trúc hệ thống trao đổi ven sông của Bronson, mỗi hệ thống trao đổi ven sông có một vùng duyên hải làm cơ sở cho một trung tâm thương mại thường tọa lạc ở cửa sông. Đây cũng là một trung tâm giao dịch hải thương quốc tế và là điểm kết nối với các cửa sông khác của các vùng lân cận. Cũng có những trung tâm ở thượng nguồn, là những điểm tập trung ban đầu của các nguồn hàng có nguồn gốc sản xuất ở những nơi xa sông nước. Những hàng hóa này được sản xuất ở những nơi không họp chợ, cư dân sống trong các làng bản vùng thượng du hay thượng nguồn. Sau đó, hàng hóa được tập kết về các trung tâm ven biển. Mỗi mandalas có một hệ thống trao đổi ven sông như vậy.

Duyên hải Sumatra và bán đảo Malay cung cấp nhiều con sông chảy từ vùng nội địa sâu xa giàu các sản phẩm lâm nghiệp và kim loại quý đổ xuống các vùng bờ biển với cảng sông-cảng biển. Mỗi con sông do đó hình thành một số khu định cư gần cửa sông với tham vọng biến thành trạm trung chuyển và thu gom hàng hóa của miền và đưa ngược trở lại các hàng hóa bên ngoài. Bên trên nó còn có các cộng đồng rải rác dọc sông nhánh hay bám lấy các thung lũng và sông suối (xem bản đồ các hệ thống sông ở Sumatra). Vì thế, mạng lưới thương mại của Srivijaya phụ thuộc rất chặt chẽ vào các cộng đồng này.

srivijaya 6

Các hệ thống sông ở Sumatra (J.N.Miksic 1985)

Vùng đất ban đầu của Srivijaya là khu vực Bukit Seguntang và Sabokingking, (Palembang), nơi mà quyền lực và sự thịnh vượng của nó không gì hơn là sự kết nối với vùng thượng nguồn sông Musi giàu có vàng, gỗ, nhựa thông, gia vị và kiểm soát Malayu phía bắc với nguồn vàng Minangkabau (Munoz 2006:117). Palembang trở thành điểm tập kết quan trọng khi các con thuyền 100 tấn có thể ngược dòng sông 90 km vào bất cứ mùa nào trong năm, còn các thuyền từ 5 đến 20 tấn có thể ngược dòng đến 270 km tới Muara Kelingi. Trong khi, các thuyền 20 tấn có thể ngược sông Batanghari 300 km trong mùa khô và theo nhiều nhánh sông khác nhau: Tembesi, Bungo, Tebo (Miksic 1985:429). Các khu vực khác phía đông cũng có những mạng lưới tương tự để kết nối với nội địa như cảng Gunung Sugih và Rengat. Dọc theo bán đảo Malay cũng có những hệ thống tương tự gắn liền với các hệ thống của các vương quốc cảng thị city-States. Vai trò của các hệ thống ven sông này quan trọng đến nỗi chính nó quyết định sự hình thành, khuynh hướng mở rộng, bành trướng, cũng như chính sách phát triển, mở rộng của chính quyền Palembang.

Srivijaya đóng vai trò kết nối các mạng lưới liên vùng và nhiều nhóm người Malay khác nhau trên khu vực bán đảo Malaya và quần đảo Indonesia. Điều đó có nghĩa là các mạng lưới ven sông được kết nối ở phạm vi rộng lớn đề tạo thành một mạng lưới biển hoàn hảo mà Srivijaya đóng vai trò như một đế chế biển/đế chế đảo (D.G.E. Hall 1956). Nhờ đó mà Srivijaya làm chủ được một khu vực giàu tài nguyên và các sản phẩm quý: hương liệu, gia vị… cung cấp cho Ấn Độ, Trung Hoa, trở thành một chủ thể của con đường tơ lụa trên biển và góp phần vào “kỷ nguyên sớm của thương mại Đông Nam Á” (G.Wade 2006). Bản đồ dưới đây về các mạng lưới ven biển của Srivijaya sẽ cho thấy vị trí trung tâm của vương quốc này nhằm kiểm soát và tiến đến độc quyền các hàng hóa của khu vực quần đảo. Đế quốc Srivijaya đã sử dụng sức mạnh hải quân để bắt các cảnh thị phục tùng, giành lấy độc quyền buôn bán hàng hóa, thu thuế và quan trọng hơn là có được nguồn cung để đưa đến thị trường khổng lồ Trung Hoa. Mối quan hệ giúp duy trì sự thịnh vượng của nó trong nhiều thế kỷ.

sritijaya 5

Mạng lưới này không chỉ thu hút tập hợp hàng hóa mà còn đóng vai trò tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ và nhằm huy động nhân lực cho các hoạt động quân sự của đế quốc. Tấm bia nổi tiếng Keducan Bukit có nói đến các lực lượng quân sự khác nhau bộ binh và thủy binh cùng tham gia cuộc viễn chinh mà K. Hall cho rằng điều này phản ánh sự liên minh do Srivijaya tổ chức giữa các nhóm người Biển và người nội địa còn Wolters thì cho rằng chính các nhóm người Biển là cơ sở đưa lại sức mạnh và sự dũng cảm, thiện chiến trên biển cho Srivijaya, điều đã được những người Trung Hoa đương thời mô tả và các tài liệu dân tộc, ngôn ngữ học khẳng định, đặc biệt là người Orang Laut cư trú ở quần đảo Riau, cửa ngõ vào eo Melaka (Wolter 1967; Sather 2006; Solheim 2006; Andaya 2008; Nguyễn Văn Kim 2008; Ngô Văn Doanh 2009).

Kết luận

Tiếp cận lịch sử Srivijaya như một thể chế thương mại trong khu vực hàng hải Malay Đông Nam Á chính là cách thức để làm sáng rõ những hiểu biết của chúng ta về vương quốc vẫn còn nhiều ẩn dấu trong lịch sử Đông Nam Á. Vương quốc này nắm giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ khu vực, liên khu vực cũng như đóng vai trò hạt nhân của mạng lưới trao đổi thương mại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII qua các eo biển của khu vực mà qua đó góp phần truyền bá tôn giáo, nghệ thuật, thiết lập các mối tương tác khu vực, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại.

Srivijaya được tiếp cận trên khung cảnh của một tiểu vùng thương mại biển thuộc thế giới Malay Đông Nam Á, có thể coi là một “case study” điển hình trong chủ đề này và cách thức tiếp cận khu vực học ở đây hy vọng sẽ giúp vạch ra những đường ranh giới cần thiết về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ nhân chủng cho các phân vùng/tiểu vùng nghiên cứu Đông Nam Á. Từ đó, có thể giúp các nhà nghiên cứu tăng thêm tính định hướng khi lựa chọn phương pháp, cách tiếp cận và lí thuyết nghiên cứu phù hợp cho mỗi vùng và phân vùng.

THAM KHẢO

Andaya B.W and Andaya., L.Y
1983 A History of Malaysia. Macmillan Asian History Series
Andaya., L.Y
2008 Leaves of the same tree: Trade and Ethnicity in the Straists of Melaka. University of Hawai’i Press. Honolulu
Dương Duy Bằng
2005 Đông Dương một đầu mối giao thương. Nghiên cứu Đông Nam Á số 4/2005
Coedes., G
1968/2008 The Indianized States of Southeast Asias. Honolulu: University Press of Hawai’i, bản tiếng Việt, NXB Thế giới 2008
Ngô Văn Doanh
2009 Mandala Srivijaya. Nghiên cứu Đông Nam Á số 2/2009
Christie, C.J
1996 A Modern History of Southeast Asia: Decolonization, Nationalism and Separatism. Tauris Academic Studies
Bellwood, Peter
1997 Prehistory of the Indo-Malaysian Archipelago. University of Hawai’i Press. Honolulu
2004  The Origins and Dispersals of Agricultural Communities in Southeast Asia’, in Glover and Bellwood (eds), Southeast Asia, 21–40
Bellwood., Peter, James J. Fox, Darrell Tryon
2006 The Austronesians: Historical and Comparative Perpectives. ANU Press
Peter Bellwood and Eusebio Dizon.
2008 “Austronesian cultural origins: Out of Taiwan, via the Bantanes Islands, and onwards to Western Polynesia”, in “Past Human Migrations in East Asia: Matching archaeology, linguistics and genetics”, edited by Alica Sanchez-Mazas, Roger Blench, Malcolm D. Ross, IIlia Peiros and Marie Lin. Routledge Studies in the Early History of Asia, Routledge 2008. P. 23-39
 Bronson. B
1977 Exchange at the Upstream and Downstream Ends: Notes toward a Functional Model of the Coastal State in Southeast Asia, in “Economic exchange and social interaction in Southeast Asia: Perspectives from Prehistory, History. And Ethnography”, ed. by Karl L. Hutterer. Center for South and Southeast Asia Studies, The University of Michigan, 1977, Michigan papers on South and Souteheast Asia, 13, p. 39-52
Dellios., Rosita
2003 Mandalas from the Sacred origins to sovereign affairs in traditional Southeast Asia. Center for East-West Cultural and Economic Studies-CEWCES Research Paper, 2003, Bond University
Hall.,D.G.E
1955 A History of South-east Asia. London: Macmillan, Bản dịch Tiếng Việt 1997, Nxb CTQG
Hall., Kenneth R.
1985 Maritime trade and State development of Early Southeast Asia. Hawaii University
1992 Economic History of early Southeast Asia, in CHSEA, Vol 1, eds by Nicholas Tarling. Cambridge University Press
J.Kathirithamby-Wells and John Villiers
1990 Southeast Asian Port and polity: Rise and Demise. NUS Press
Nguyễn Văn Kim
2008 Thể chế biển Srivijaya. Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1/2008
Kulke. H
1986 The early and Emperial kingdom in Southeast Asian History, in Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, (ed) by David G. Marr and A.C.Milner, Research School of Pacific Studies and Australian National University, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore
1993 “Kadtuan Srivijaya” – Empire or Kraton of Srivijaya? A Reassessment of the Epigraphical Evidence. BEFO, Volume 80, Numéro 1, p. 159-180
Michel Jacq-Hergoualc’H
2002 The Malay Peninsula: Crossroads of the Maritime Silk Road (100 BC-1300 AD). Brill
Lieberman., Victor
2003 Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830. Volume 1: Integration on the Mainland. Cambridge University Press
2009. Strange Parallels – Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830. Volume 2: Mainland Mirros: Europe, Japan, China, South Asia, and the Islands. Cambridge University Press
Lương Ninh
1998 Lịch sử, văn hóa, vùng trong viễn cảnh Đông Nam Á. Nghiên cứu Lịch sử số 1/1998
2008 Nam Á và Nam Đảo: Suy ngẫm và thảo luận. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9/2008
McKinnon., Edwards. E
1984 Kota Cina: Its Contexts and Meaning in the Trade of Southeast Asia in the Twelfth to Fourteenth Centuries. PhD dissertation, Cornell University
Manguin., P.Y
1985 The Introduction of Islam in Champa., JMBRAS, 1985, LVIII. pp. 1-28
Miksic J.N.
1979 “Archaeology, Trade and Society in Northeast Sumatra.” Unpublished Ph.D. thesis submitted at Cornell University
1985 Traditional Sumatran Trade. Bulletin de I’Ecole francaise d’Extrême-Orient, Année 1985, Volume 74, Numéro 1, p.423-467
Milner., Anthony
2008 The Malays. Wiley-Blackwell, 2008
Munoz., P.M
2006 Early Kingdoms of the Indonesian Archipelago and the Malay Peninsula. Editions Didier Millet
Nik Hassan Shuhaimi bin Nik Abdul Rahman
1990 The kingdom of Srivijaya as Socio-Political and Cultural Entity, In J. Kathirithamby-Wells and John Villiers (ed), Southeast Asian Port and Polity: Rise and Demise. NUS Press
Reid., A
1999 Charting the Shape of Early Modern Southeast Asia. Silkworm books.
Sather., Clifford
2006 Sea Nomadics and Rainforest Hunter-Gatherers: Foraging Adatations in the Indo-Malaysian Archipelago, in The Austronesians: Historical and Perspectives. ANU press
Shaffer., Lynda Norene
1996 Maritime Southeast Asia to 1500. London: ME Sharpe Armonk, 1996
Solheim, Wilhelm G., David Bulbeck, Ambika Flavel
2006 Archaeology and Culture in Southeast Asia: Unraveling the Nusantao. Diliman, Quezon City: University of the Philippines Press
Hoàng Anh Tuấn
2008 Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9-10/2008, tr. 1-16
Thongchai Winichakul
1994 Siam Mapped: A History of the Geo-body of a Nation. Honolulu: University of Hawaii Press
Van Leur, J.C.
1955 Indonesian Trade and Society: Essays in Asian Social and Economic. History. (The Hague and Bandung, 1955)
Vickery., Michael
2005 Champa Revised. ARI Working Paper, No.37
Wade.,Geoff
1993 On the Possible Cham Origin of the Philippine Scripts, JSEAS, Vol. 24, 1993 pp. 44-87
2006 “An Earlier Age of Commerce in Southeast Asia: 900-1300 C.E.?”, Workshop on Dynamic Rimlands and Open Heartlands: Maritime Asia as a Site of Interactions (Conference Proceeding), Osaka University and National University of Singapore, 2006, pp. 27-81.
Wheatley., Paul
1961 The Golden Khersonese: Studies in the historical geography of the Malay Penninsula before A.D. 1500. Kuala Lumpur: University of Malaya Press
Wolters, Oliver.W
1967 Early Indonesian Commerce: A Study of the Origins of Srivijaya. Cornell
1986 Restudying Some Chinese Writings on Sriwijaya. Indonesia Vol. 42, Cornell University
1982/1999 History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives. Singapore

[2] Xem thêm về nghiên cứu so sánh gần đây của GS. Victor Lieberman (University of Michigan) đề cập đến cách thức tiếp cận đối với lịch sử Đông Nam Á lục địa (vol 1) và hải đảo (vol 2) trong bối cảnh phát triển của lục địa Á-Âu từ 800 đến 1830 (2003/2009).

[3] Xem Hoàng Anh Tuấn. Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9-10/2008, tr. 1-16 ; Các tác giả. Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á, thế kỉ XVI-XVII, Nxb. Thế Giới, H., 2007

[4] Về lí thuyết nghiên cứu liên ngành và khu vực học trong các ngành KHXH&NV, xin tham khảo nội dung của hội nghị “Nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn: kinh nghiệm và triển vọng”, do trường ĐHKHXHNV phối hợp với các trường đại học Pháp là Đại học Nantes, Đại học Le Mans, Đại học Angers tổ chức tại Hà Nội 12/2009.

[5] Charles Wheeler, University of California, Irvine, A Maritime Logic in Vietnamese History? Littoral Society in Hội An‘s Trading World c. 1550-1830, Conference proceedings.

http: http://www.historycooperative.org/proceedings/seascapes/wheeler.html

Momoki Shiro, “Đại Việt and the South China Sea Trade, from the 10th to the 15th Century”, Crossroads 12, 1 (1998): 1-34; Li Tana, Nguyễn Cochinchina: Southern Vietnam in the seventeenth and eighteenth Centuries (Ithaca: Cornell University Southeast Asia Program, 1998); Charles Wheeler, “Cross-cultural Trade and Trans-regional Networks in the Port of Hội An: Maritime Vietnam in the Early Modern Era” (Ph.D Dissertation, Yale University, 2001); Charles Wheeler, Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận-Quảng, Seventeenth-Eighteenth Centuries, Journal of Southeast Asian Studies, 37.1 (Feb. 2006), p. 123-154 ; John K. Whitmore, The Rise of the Coast: Trade, State and Culture in Early Đai Viet, Journal of Southeast Asia Studies, 37.1 (Feb. 2006), p. 103-123 ; Li Tana, A View From The Sea: Perspectives On The Northern And Central Vietnamese Coast, Journal of Southeast Asian Studies, 37.1 (Feb. 2006), p. 83-102

[6] Xem thêm Peter Bellwood. Man’s Conquest of the Pacific.

[7] Về các nghiên cứu gần đây liên quan đến ngữ hệ Austronesia nhất nhất là sau Hội nghị quốc tế năm 1985 (Manila), xin xem các nghiên cứu của Lương Ninh, Peter Bellwood, W. Solheim, R. Blust, W. Meacham, Jared Diamond, S. Oppenheimer…

[8] Mandalas phác họa mô hình chính trị của Đông Nam Á sơ kỳ được Wolters đưa ra đầu tiên năm 1982. Theo Wolters, mandala dùng để chỉ tình trạng chính trị riêng biệt và thường không bền vững, trên phạm vi địa lý xác định một cách mơ hồ, không có biên giới định rõ, trong đó, các trung tâm nhỏ có xu hướng tìm sự an toàn ở khắp mọi hướng. Mỗi mandala gồm một số tiểu thủ lĩnh phụ thuộc. một số có thể từ bỏ quy tắc phụ thuộc khi có thời cơ và cố gắng tạo lập một hệ thống của mình. Chỉ có Mandala tôn chủ mới có quyền nhận cống nạp và cử đại diện của mình để thể hiện vị trí tôn chủ bề trên (Wolters 1982: 17, xem thêm Rosita Dellios 2003, Lương Ninh 1998).

[9] Trong cuộc nói chuyện giữa chúng tôi với GS Tony Reid tại ARI, NUS, Singapore (7/7/2010), ông bày tỏ quan điểm không tán đồng việc sử dụng khái niệm “đế quốc” cho Phù Nam, Srivijaya hay bất cứ thể chế Đông Nam Á nào thời kỳ tiền thuộc địa vì các lí do tôn giáo, thương mại và quan hệ họ hàng hơn là quyền lực chính trị và quân sự: “My objection to the term in pre-colonial SE Asian history is that it too readily implies power, of a territorial and even bureaucratcic kind, when all we really know is that there are networks of trade and distribution. My own reading of SE Asian history is that power was seldom bureaucratised (Vietnam being the nearest to an exception). Religious, commercial and kinship networks and reciprocities appear to have achieved more than military/bureaucratic power” (A. Reid).

[10] “Tất cả các người, con trai của các vị vua, các thủ lĩnh, các tướng quân, quan lại tâm phúc của các vị vua, quan tòa, quan giám sát, quan thanh tra các đẳng cấp thấp, thư lại, thợ điêu khắc, thuyền trưởng, thương nhân… nô lệ của nhà vua, tất cả các người sẽ bị giết bởi tai họa của lời nguyền này. Nếu các người không trung thành với ta, các người sẽ bị giết chết bởi lời nguyền. Tuy nhiên, nếu các người ngoan ngoãn, trung thành và thẳng thắn với ta, không xâm phạm tội ác, các người sẽ nhận được sự đền ơn của ta. Các người cùng với vợ, con sẽ được sống trong hòa bình, được hưởng thành quả từ những gì các người uống”. Tấm bia ghi lại lời nguyền được đọc trong hội thề nước. Các thủ lĩnh địa phương, quan lại phải đổ nước lên hòn đá có khắc hình rắn Naga 7 đầu (Tượng trưng cho uy quyền của nhà vua) rồi lấy nước đó uống.  (P. M. Munoz 2006:124)

[11] Trong xu hướng tiếp cận khảo cổ học, nhân chủng, dân tộc và ngôn ngữ những năm gần đây, đáng chú ý là loạt công trình “The Peoples of Southeast-East Asia and the Pacific” do Peter Bellwood và Ian Glover chủ biên, có thể kể ra đây: The People of Bali của Angela Hobart, Urs Ramseyer và Albert Leeman; “The Peoples of Borneo” của Victor T. King; “The Lapita People” của Patrick Kirch, “The Khmer” của I. W. Mabbett và David Chanlder, “The Bugis” của Christian Pelras, “The Island Melanesia” của Matthew Spriggs, “The Malays” của Anthony Milner (2008) hoặc “The Austronesians: Historical and Perspectives” do Peter Bellwood, James J. Fox và Darrell Tryon biên tập (NUS, 2006)

[Vu Duc Liem, Tiếp cận khu vực học trong nghiên cứu Lịch sử Đông Nam Á truyền thống: Trường hợp Srivijaya, Nghiên cứu Đông Nam Á, Vol. 9 (138), 2011, pp. 26-37]

Advertisements