Đầu tháng trước, báo chí Cambodia và Việt Nam sôi nổi bàn luận xung quanh một cuộc tranh luận trên mạng xã hội của thủ tướng Cambodia Hun Sen khi ông đưa ra tuyên bố đáp lại cáo buộc của một fabooker người Việt rằng ông đã “phản bội” Việt Nam: “Anh cần biết rằng tôi trung thành với người Cambodia, với đức vua, với người vợ yêu dấu. Việt Nam không phải là chủ của tôi”, theo tờ the Phnom Penh Post. Khi nói những lời này, có lẽ ông đã quên bài phát biểu tháng 12.2013 ở Hà Nội, trước 500 cựu quân nhân tình nguyện Việt Nam.

Hun Sen: “Việt Nam không phải vua của tôi” (ảnh: The Phnom Penh Post)

Điều gì đang diễn ra ở Cambodia

Vị  thủ tướng sở hữu tài khoản facebook với hơn 5 triệu người “like” này, rất coi trọng mạng xã hội. Vì thế động thái này là một bức thông điệp chính trị đa nghĩa. Ông hướng đến, không chỉ là chỉ trích của người Việt về thái độ ngả về phía Beijing một cách lộ liễu, mà chủ yếu là độc giả Cambodia, những người (đặc biệt là phe đối lập, đảng Sam Riansy) luôn coi Hun Sen là người được Việt Nam dựng lên, và sử dụng lập luận này như con bài thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc trong nước, tìm kiếm sự ủng hộ nhằm thay thế chính phủ cầm quyền hiện nay.

Rõ ràng Hun Sen, một trong các thủ tướng tại vị lâu nhất thế giới, đang bị sức ép từ nhiều phía, và để củng cố địa vị kinh tế, chính trị của mình thì “hy sinh” mối quan hệ đồng minh xưa cũ là điều cần thiết. Động thái này diễn ra cùng lúc với tình hình chính trị ở Cambodia với nhiều diễn biến phức tạp. Đảng đối lập Sam Riansy đang lợi dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan để thu hút dân chúng, trong đó có các cuộc biểu tình hàng chục nghìn người tham dự. Đối tượng mà chúng hướng đến chính là Việt Nam, bằng cách kích động tâm lí chống người Việt, Việt kiều, và khơi dậy các tuyên bố sai trái về biên giới và lãnh thổ.

Nạn nhân đầu tiên là các Việt Kiều, những người sinh sống nhiều thế hệ trên biển Hồ bị kỳ thị và xua đuổi. Có ít nhất 2,000 người đã phải rời bỏ khu vực này để về vùng hồ Dầu Tiếng và đầu nguồn sông Sài Gòn. Con số này chưa có dấu hiện dừng lại.

Việt Nam dường như chưa theo dịp các diễn biến kinh tế và chính trị trong khu vực

 Chất vấn của facebooker về sự “phản bội” của Hun Sen là sự kiện mới nhất trong một chuỗi những phản ứng của người Việt Nam trong vài năm gần đây về thái độ và cách hành xử của Cambodia (và phần nào đó là Lào) ngày càng nhích dần về phía Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến biển Đông, xây dựng đập thủy điện… Đây là hai nước luôn được mô tả là đồng minh truyền thống thân cận của Việt Nam, vì thế nhiều người Việt tỏ ra bất ngờ, thất vọng, và giận dữ về cách hành xử này. Tuy nhiên nếu chúng ta nhìn lại những gì đang diễn ra ở các nước này hơn một thập kỷ qua, những điều này là hoàn toàn không bất ngờ. Và vì thế, đã đến lúc Việt Nam cần có một tiếp cận mới đối với các nước láng giềng.

Nhiều cuộc khảo sát cho thấy người Việt nhận thức khá mơ hồ về ASEAN và các cơ hội mà cộng đồng khu vực này mang lại. Điều này đặc biệt được phản ánh từ cách thức người Việt Nam cập nhật thông tin về các nước láng giềng vốn phần lớn dựa trên hiệu ứng truyền thông và niềm tin truyền thống mà ít dựa trên trải nghiệm thực tế hay khảo sát khoa học. Theo đó, Myanmar được mô tả là  một nước lạc hậu, cô lập với thế giới. Thái Lan là nước luôn trong tình trạng hỗn loạn, đảo chính, biểu tình liên miên. Lào và Cambodia là những nước nghèo đói, cô lập có vị thế không đáng kể. Thậm chí những gì không “tốt” thì đều cho là có liên quan đến Lào, từ gồm dép lào, gió Lào, thuốc lào. (!!!)

Điều này không chỉ dừng lại ở nhận thức chung của công chúng khi coi Lào và Cambodia như là những nước “đàn em” mà điều đặc biệt là nó còn xuất hiện trong số tầng lớp tinh hoa, những người làm chính sách, giới kinh doanh, học thuật và ngay cả những nhà quan sát tình hình khu vực của Việt Nam.

Ngày 07.01.2013, khi Cambodia trình làng chiếc xe điện tự chế tạo, Angkor EV 2013, giới công nghiệp xe hơi Việt Nam đã bị một phen lúng túng. Các nhà kỹ nghệ Việt Nam vẫn còn đang đau đầu với con ốc vít của Samsung. Trong khi đó, chính phủ Lào vẫn đang tiếp tục triển khai thi công đập Xayaburi bất chấp các phản đối quốc tế, trong đó có yêu cầu từ Việt Nam. Việc Cambodia từ chối đưa vấn đề Biển Đông vào thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN, và gần đây nhất là tình trạng bài Việt kiều ở Phnom Penh, quá trình “dân chủ hóa” ở Myanmar, và sự can dự quá nhanh của Trung Quốc vào các nước láng giềng … Tình hình khu vực đã có những chuyển biến quan trọng mà các quan hệ đồng minh ý thức hệ thời kỳ chiến tranh lạnh đã thay đổi nhanh chóng. Lợi ích quốc gia trở thành vấn đề cốt lõi và sự can dự của các cường quốc mới nổi bên ngoài yêu cầu Việt Nam hiểu rõ hơn về các thách thức địa chính trị mới đến từ các nước láng giềng.

Tri thức và cách thức tiếp cận của chúng ta với các nước  lân bang đang đi sau thực tiễn năng động và linh hoạt của tình hình khu vực. Đã đến lúc cần có những thay đổi trong cách thức tiếp cận, nghiên cứu, nhìn nhận Đông Nam Á với cặp mắt cập nhật và thực tế hơn, so với cách thức mà chúng ta vẫn nhìn khu vực được duy trì từ mấy thập kỷ qua.

Trong hội thảo 30 năm đổi mới diễn ra vào đầu tháng 4 năm 2016 mà tôi có dịp tham dự, TS. Vannarith Chheang đến từ Viện nghiên cứu Hòa bình và Hợp tác (Institute for Cooperation and Peace) đã có bài tham luận về “chính sách ngoại giao của Việt Nam với các nước láng giềng nhỏ hơn”. Trong đó, nhà nghiên cứu chiến lược của Cambodia (người từng có 5 năm học tập tại Việt Nam và nói tiếng Việt không hề thua kém Hun Sen) lập luận rằng Việt Nam đang dần để Lào và Cambodia tuột ra khỏi quỹ đạo của mình. Tôi có hỏi tác giả một câu ngay trên diễn đàn: “vậy anh có lời khuyên nào cho chính phủ Việt Nam để đưa Lào và Cambodia quay trở lại vòng tay của mình?”. Trong tiếng vỗ tay của hội trường, Vannarith trả lời: “câu này phải hỏi Trung Quốc !”

Đây là một câu trả lời mang tính ngoại giao, tuy nhiên nó có một hàm ý rõ ràng rằng nếu có một bên thứ ba nào đó can dự vào mối quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Cambodia thì đó là Trung Quốc. Bài học lịch sử năm 1979 cho thấy rõ ràng là kẻ thứ ba này không hoàn toàn xa lạ. và hiện tại cũng đầy nguy cơ tiềm ẩn khi lãnh đạo đảng đối lập Sam Riansy đang tìm cách dựa vào Beijing để gây xung đột với Việt Nam xung quanh vấn đề biên giới, lãnh thổ. Từ năm 1994 đến nay, Trung Quốc đã đầu tư 9.1 tỉ USD vào Cambodia, và trở thành nguồn tài trợ số 1 của nước này. Tháng trước, đáp lại ủng hộ của Cambodia đối với lập trường sai trái của Beijing về vấn đề Biển Đông là gói viện trợ 3 năm trị giá 600 triệu USD.

Thủ tướng Cambodia Hun Sen và thủ tướng Trung Quốc Lí Khắc Cường

ảnh: the Phnom Penh Post

Các nhà làm chính sách của Việt Nam dường như cũng chưa sẵn sàng đối phó với các thách thức khu vực. Trung Quốc, Lào và Cambodia đã (và sẽ) xây dựng gần 30 con đập. Chúng ta đã nói về điều này nhiều năm nay nhưng chưa có một nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của các con đập, về lưu lượng dòng chảy xuống hạ lưu sông Cửu Long. Vì thế đợt hạn hán năm 2016 cũng đã làm cho những người làm chính sách ở Việt Nam “trở tay” không kịp. Đây chắc chắn mới chỉ là đợt hạn đầu tiên mà thôi. Trong những năm tới đây, Lào và Cambodia sẽ nhận được thêm nhiều đầu tư mới, các khoản vay ưu đãi… và vì thế sẽ ngày càng nhích dần về phía Beijing. Đây là một tương lai được dự báo trước mà chính quyền Việt Nam cần phải lưu tâm.

Trong số các bước đi nhằm kiểm soát khu vực sông Mekong của Beijing có siêu dự án đường sắt cao tốc 3,000 km nối Trung Quốc, Lào, Thailand, Malaysia và Singapore. 845 km đầu tiên nối Kunming với Bangkok được đầu tư 15.7 tỉ USD. Dù đầu năm nay, Thailand hủy dự án, 427 km trên lãnh thổ Lào đang được triển khai với số vốn 6 tỉ USD hoàn toàn đến từ Trung Quốc. Tháng 11 năm ngoái, Trung Quốc cũng đã giúp Lào xây dựng và phóng thành công vệ tinh viễn thông đầu tiên, Laosat1 với giá 258 triệu USD. Các đặc khu kinh tế và công nghiệp dọc biên giới Trung Quốc-Lào cũng đang được triển khai với số vốn đầu tư đến 31 tỉ USD, cao hơn tổng GDP của Lào.

Dự án đường sắt cao tốc (ảnh: thestraitstimes)

Tái định vị lại Việt Nam trong lịch sử thông qua các mối quan hệ khu vực

Nhất thể hóa khu vực và hình thành cộng đồng ASEAN cũng là lúc chúng ta cần có một tầm nhìn lịch sử xuyên suốt cho các tương tác khu vực, cũng như tái định vị vị thế của dân tộc mình trong khung cảnh khu vực. Chúng ta đã ở đâu trong tương tác với các nước trong khu vực trong nhiều thế kỷ qua? Điều đáng nói là trong khi quan hệ quốc tế và tình hình khu vực chuyển biến cực kỳ nhanh chóng thì tri thức và góc nhìn của người Việt Nam về Lào và Cambodia dường như vẫn chịu ảnh hưởng từ lịch sử xa xưa, trong đó người Việt chịu ảnh hưởng của hệ quy chiếu văn minh Trung Hoa, coi mình là một “đế chế” và các dân tộc xung quanh là “man di”, phiên thuộc, chư hầu, hay những người em cộng sản trong Chiến tranh Lạnh (có thể tìm thấy điều này trong bất cứ trang viết nào về hai nước này trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển sự LệĐại nam Thực lục).

Niềm tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, giúp đỡ nước lân bang yếu luôn là điều được các thế hệ người Việt truyền tụng. Thực tế, Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử khu vực, trong đó có hỗ trợ các nước láng giềng. Nhà Trần đã ba lần đánh bại quân Mông-Nguyên ở cửa ngõ Đông Nam Á, cũng như giúp đỡ Champa trong cuộc chiến. Tuy nhiên Đại Việt không phải là nước duy nhất trong khu vực làm được kỳ tích này. Người Myanamar và Java cũng viết những trang sử tương tự. Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, nhưng trước đó, đạo quân này từng bốn lần đại bại dưới tay người Myanmar, và trong một hành động mang tính biểu tượng, kẻ xâm lược đã phải tự tay nấu chảy tất cả súng ống và đốt thuyền bè trước khi rút lui. Nhà Nguyễn từng tạo thế cân bằng với Thailand tại Cambodia và giúp cho vương triều này tồn tại mà không hoàn toàn lệ thuộc vào Bangkok. Người Việt cũng đã giúp Cambodia thoát khỏi ách diệt chủng Pol Pot, đã giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Lào ở thế kỷ XX. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy hệ quả khi chúng ta đánh giá sai lầm khả năng của các nước láng giềng. Đó là tình thế của quân Nguyễn ở Phnom Penh từ 1838 đến 1845 và sau này là cuộc chiến một thập kỷ chống tàn dư Khmer đỏ.

Lào và Cambodia: láng giềng và đối tác

Việt Nam đầu tư nhiều và cũng có các khoản viện trợ đa dạng cho Lào và Cambodia, tuy nhiên phần lớn thông qua kênh quan hệ đảng và các liên hệ chính thống nhà nước. Không thể phủ nhận kênh đối ngoại này rất quan trọng và đã được xây dựng trong nhiều thập kỷ qua. Mặc dù vậy, đó vẫn là những cách thức ngoại giao cổ điển liên quan đến hệ thống ý thức hệ thời Chiến tranh Lạnh và điều cần làm là Việt Nam nên đa dạng hóa cách thức tiếp cận đối với hai quốc gia láng giềng này. Chúng ta cần giới thiệu hình ảnh của một Việt Nam mới trong mắt các nước láng giềng thay vì níu giữ di sản và các mối quan hệ quá khứ. Thế hệ trẻ ở các nước này đã thay đổi và Việt Nam cần cách tiếp cận mới, bao gồm việc đa dạng hóa kênh quan hệ đối ngoại, tạo dựng hình ảnh một Việt Nam năng động, tăng cường quảng bá hình ảnh, cung cấp học bổng đào tạo, thúc đẩy du lịch, hợp tác kinh tế…

Điều này đòi hỏi các tiếp cận mới linh hoạt và đa chiều. Thay vì coi Lào và  Cambodia là những nước “đàn em” thì giờ đây họ là những đối tác khu vực mà tầm quan trọng và tiếng nói của họ trên diễn đàn quốc tế không hề thua kém bất cứ quốc gia khu vực nào. Việt Nam đã sẵn sàng ở vị trí để làm điều đó. Chúng ta có lợi thế về các mối quan hệ truyền thống, nhiều thế hệ lãnh đạo của hai nước này được đào tạo ở Việt Nam. Vị trí địa lý gần gũi, đặc biệt trong trường hợp của Lào, là cửa ngõ cho nước này ra biển. Các khoản vốn đầu tư và quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước này cũng không hề nhỏ. Đây rõ ràng là những nguồn lực năng động để thiết lập ảnh hưởng của chúng ta ở các nước láng giềng, mở ra một chương mới cho lịch sử ngoại giao và thúc đẩy hợp tác với Lào và Cambodia.

Có một khái niệm ngoại giao hiện đại đang trở thành xu thế, “ngoại giao nhân dân” “people’s diplomacy”. Khái niệm này nhấn mạnh đến việc thúc đẩy giao lưu giữa nhân dân các nước bên cạnh kênh ngoại giao truyền thống. Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ các điều kiện để thực hiện chiến lược này ở Lào và Cambodia, thông qua giao lưu thanh niên, giáo dục, văn hóa, du lịch, hợp tác kinh tế. Chúng ta cũng có mạng lưới Việt kiều đông đảo, sinh sống lâu đời, hòa nhập tốt vào các xã hội bản địa ở Lào và Cambodia. Tất cả các nhân tố này sẽ là cơ sở cho sức mạnh mềm của Việt Nam như một kênh mới trong tiếp cận các nước láng giềng. Về điểm này thì rõ ràng người Việt có ưu thế hơn hẳn so với hình ảnh các du khách “không thân thiện” Trung Quốc.

Henry Kissinger trong bài phát biểu tại hội nghị an ninh Munich (Đức) lần thứ 50 (2014) đã so sánh Châu Á của thế kỷ XXI mang những ẩn tàng xung đột quân sự và thù nghịch như những gì ở châu Âu thế kỷ XIX. Điều này có thể mang tính cảnh báo nhiều hơn là thực tế, tuy nhiên nó hàm ý về tính sôi động chính trị và quân sự ở đây mà người Việt Nam, đặc biệt là giới học thuật và các nhà làm chính sách cần có một tầm nhìn mới mang tính chiến lược và hệ thống nhằm hoạch định các chính sách ngoại giao mới, đặc biệt là với các nước láng giềng. Đông Nam Á nằm ở giữa các hành lang an ninh và kinh tế Thái Bình Dương, xuyên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các cường quốc bên ngoài sẽ ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn trong khu vực, và Việt Nam cần phải chuẩn bị cho điều này.

Tham khảo

Daniel George Edward Hall. 1981. A History of South-East Asia. London: Palgrave Macmillan; bản dịch tiếng Việt, 1997. Lịch sử Đông Nam Á. Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc Gia.

Goh Beng-Lan, ed., 2011. Decentring and Diversifying Southeast Asian Studies: Perspectives from the Region, Singapore: ISEAS

Xem thêm về tư tưởng hoa-di của người Việt trong Trần Quang Đức. 2013. Ngàn năm áo mũ. Hà Nội: Nxb Thế giới

Trần Thị Vinh, Hội nhập khu vực về nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đông Nam Á: vấn đề đặt ra cho các trường đại học Việt Nam, Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (2004), tr. 46-48

Vannarith Chheang. Vietnam’s Foreign Policy towards Its Smaller Neighbours, Vietnam Forum 2016 “Vietnam: Thirty years of Doi Moi and beyond”. ISEAS: Singapore, 7-8 April 2016

Vũ Đức Liêm. Việt Nam ở giao điểm của nghiên cứu khu vực và toàn cầu: Tri thức Đông Nam Á của người Việt và cách thức tiếp cận mới. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (2016)

Vu Duc Liem, Relocating Vietnamese centrism in historical views of Laos and Cambodia, the 7th Engaging with Vietnam Conference, Hanoi: University of Hawaii, Portland State University, and Hanoi University of Business and Technology: July 2015

Yingcong Dai, A Disguised Defeat: The Myanmar Campaign of the Qing Dynasty, Modern Asian Studies, Vol. 38, No. 1 (Feb., 2004), pp 145-189

http://www.bloomberg.com/news/2014-02-02/kissinger-says-asia-is-like-19th-century-europe-on-use-of-force.html

http://www.phnompenhpost.com/national/china-cambodia-affection-display

http://thediplomat.com/2016/04/china-thailand-railway-project-gets-untracked/

http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/thu-tuong-chi-dao-dam-bao-cuoc-song-nguoi-viet-tu-campuchia-ve-nuoc-3438580.html

http://ngm.nationalgeographic.com/2015/05/mekong-dams/nijhuis-text

https://www.facebook.com/hunsencambodia/likes

http://www.bbc.com/vietnamese/multimedia/2014/01/140120_sam_rainsy_correct

http://www.phnompenhpost.com/national/vietnam-not-my-king-pm

http://www.straitstimes.com/asia/east-asia/chinas-dream-of-rail-link-to-s-e-asia-coming-true

 

Advertisements