Search

thinkvietnam

Albert Einstein — 'What is right is not always popular and what is popular is not always right.'

Category

Historiography

VIỆT NAM Ở GIAO ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU: TRI THỨC ĐÔNG NAM Á CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ CÁC THỨC TIẾP CẬN MỚI

Vietnam at the Crossroad of Area and Global Studies: Vietnamese Knowledge on Southeast Asia and New Approaches

Vũ Đức Liêm

Abstract

Area studies is generally believed in a crisis because of emerging Global and International Studies and driving forces of globalization. Southeast Asian studies is expecting to face the same struggle in reconstructing its structure, methodological approach and geographical shift. For the survival of area studies, enormous efforts have been paid to integrate various bodies of knowledge generated by academic disciplines, interdiscipline, multidiscipline, transnational and global studies. Across the region, indigenous Southeast Asianists now destine a new role to play that aiming to replace western long domination of the field. This paper aims to shed light upon the academic interaction between areas and global studies and the new paradigm emerges in the global age. It designates new form of area studies and the need of Vietnamese academic change for better regional integration that surpasses historiographical heritage of nationalism and Cold War ideology.

Key words: Southeast Asian Studies, Global Studies, Vietnamese history

Tóm tắt

Nghiên cứu khu vực học được coi là đang ở “giai đoạn khủng hoảng” bởi sự nổi lên của nghiên cứu toàn cầu và ảnh hưởng của các mối quan hệ liên khu vực toàn cầu hóa. Nghiên cứu Đông Nam Á đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ cả về cấu trúc, lí thuyết tiếp cận và chuyển dịch của các trung tâm học thuật trong nỗ lực kết nối các dòng chảy tri thức tạo ra bởi tiếp cận chuyên ngành, liên ngành, đa ngành và nghiên cứu toàn cầu. Các học giả Đông Nam Á đang đóng những vai trò mới trong tiến trình này nhằm thay thế vai trò thống trị của các trung tâm học thuật Âu châu và Bắc Mỹ. Bài Viết này đề cập đến sự tương tác giữa nghiên cứu khu vực và nghiên cứu toàn cầu trong việc định hình các cách thức tiếp cận khu vực học mới và định vị vị trí của Việt Nam trong sự chuyển dịch này.

Từ khóa: Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu toàn cầu, Lịch sử Việt Nam

 DẪN NHẬP

 Sự chuyển dịch của địa chính trị toàn cầu đã ảnh hưởng sâu sắc đến triển vọng của nghiên cứu khu vực học và lần đầu tiên đặt ra thách thức về sự tồn tại của nó với tư cách là một lĩnh vực (subject) học thuật. Giống như tất cả các trung tâm nghiên cứu khu vực khác, nghiên cứu Đông Nam Á là hệ quả của chiến tranh lạnh và chiến lược toàn cầu như một sản phẩm của các mối quan tâm địa chính trị và quân sự. Bức tường Berlin sụp đổ và cuộc chiến ý thức hệ qua đi giúp định hình các mối quan tâm của các cường quốc, và cũng vì thế, khu vực học trong ba thập kỷ qua có sự biến đổi mạnh mẽ. Bài viết này sẽ hướng đến những thách thức mà nghiên cứu khu vực ở Đông Nam Á đang phải đối mặt cũng như đề xuất cách thức tiếp cận mới cho Việt Nam để đón nhận sự thay đổi giữa nghiên cứu khu vực (Area Studies), nghiên cứu toàn cầu (Global Studies) và nghiên cứu Quốc tế (Internaitonal Studies). Việt Nam đang ở đâu giữa các luồng tri thức này và thách thức nào cho nền học thuật Việt Nam khi tiếp cận với sự chuyển dịch mới của nghiên cứu Đông Nam Á và nghiên cứu toàn cầu hóa.

Cuộc tranh luận trong những thập kỷ vừa qua ở Bắc Mỹ và Châu Âu hướng đến sự tồn tại của nghiên cứu Đông Nam Á với tư cách là một ngành khoa học. Khi các học giả bắt đầu nói đến sự “kết thúc của lịch sử” (Francis Fukuyama, 1991) và  thế giới trở nên “phẳng” (Thomas friedman, 2007, 2012) dưới sức nặng của làn sóng toàn cầu hóa, người ta bắt đầu hoài nghi về tính cách riêng biệt và đơn nhất của khu vực học vì giờ đây, các hiện tượng xã hội dần mang các thuộc tính toàn cầu, hơn là khu biệt.[1] Và vì thế, không có lí do để thành lập và duy trì các trung tâm nghiên cứu khu vực riêng biệt, thay vào đó là nghiên cứu toàn cầu hóa và nghiên cứu quốc tế. Mặt khác, với tư cách là một ngành khoa học, nghiên cứu Đông Nam Á được cho là đã “thất bại” và đang gặp “khủng hoảng” vì không có khả năng khái quát và hệ thống hóa tri thức, cũng như kết nối tri thức của các ngành khoa học riêng lẻ với nhau và giữa các trường phái học thuật “phương Tây” và “ngoài phương Tây” (Non-West).[2]

Nhiều trường Đại học Âu Mỹ đã đi tiên phong trong xu thế này với sự ra đời của các trung tâm nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu toàn cầu. ở Đại học Leiden, trung tâm nghiên cứu ngành nhân văn của Hà Lan, chương trình Leidenglobal được thành lập bằng cách tập hợp các viện nghiên cứu vùng, bảo tàng và trung tâm lưu trữ riêng biệt.[3]  Các chương trình nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu toàn cầu đã được triển khai tại các trường đại học ở Bắc Mỹ, như Indiana,  Carnegie Mellon University, University of Minnesota Harvard Kenendy School (International and Global Affairs Concentration), Center for Goervement and International Studies…  Nghiên cứu quốc tế và toàn cầu đã trở thành hiện tượng mới của khoa học xã hội trong thập niên đầu thế kỷ XXI. Tại Nhật Bản, chương trình đào tạo sau đại học về Global Studies (GPGS)  được thành lập năm 2006 ở Đại học Sophia hướng đến mục tiêu phát triển các nghiên cứu khu vực học theo hướng toàn cầu hóa.[4]

Phải chăng nghiên cứu Đông Nam Á đã đến lúc rút ra khỏi các chương trình học thuật và thu mình trong không gian lớn hơn của nghiên cứu Quốc Tế và Toàn Cầu?

Cũng trong các thập niên trở lại đây, hai xu thế chính trị và học thuật mới xuất hiện đã làm thay đổi cách thức tiếp cận mới đối với khu vực học, dịch chuyển trung tâm và cấu trúc của ngành này trên phạm vi toàn cầu. Lịch sử vẫn chưa “kết thúc”, hoặc ít nhất là không “kết thúc” theo cách mà phương Tây mong muốn. Chiến tranh Vùng Vịnh, bóng ma của xung đột giữa Phương Tây và thế giới Hồi Giáo, gần nhất là sự kiện 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố  làm sống dậy các chỉ trích học thuật đối với cách nhìn của thế giới phương Tây đối với “Phương Đông”.[5] Lí thuyết về “sự va chạm của các nền văn minh” (Clash of Civilizations, Samuel Hantington, 199) có dịp quay trở lại, hướng đến sự khác biệt văn hóa, tôn giáo giữa các khu vực. Nó cho thấy thế giới không chỉ ngày càng phát triển theo các xu thế “đồng nhất”, mà còn xuất hiện sự chia rẽ và mâu thuẫn từ chính quá trình “nhất thể hóa” đó. Điều này không chỉ giúp “phục hưng” lại nghiên cứu về thế giới Hồi Giáo hay một vài khu vực riêng biệt liên quan đến cuộc chiến chống khủng bố, mà có ý nghĩa giúp định hình lại cách thức tiếp cận khu vực học  hậu chiến tranh lạnh.

Giống như các nghiên cứu khu vực học khác, Đông Nam Á đã trở lại, nhưng trong một khung cảnh hoàn toàn mới. Ở các môi trường học thuật Bắc Mỹ và Châu Âu, cái nôi của nghiên cứu Đông Nam Á, quy mô của ngành này đang thu hẹp và trở thành một bộ phận của nghiên cứu liên vùng và toàn cầu hóa. Nhưng một xu thế mạnh mẽ hơn đang diễn ra ngay chính ở Đông Nam Á với sự thành lập của nhiều trung tâm nghiên cứu vùng và tham vọng vươn ra quốc tế, để thay thế vai trò dẫn dắt của học thuật phương Tây đã từng thống trị ngành này trong thế kỷ XX. Quá trình tái cấu trúc và chuyển dịch trung tâm của ngành nghiên cứu Đông Nam Á về khu vực vừa là cơ hội và thách thức cho giới học thuật Việt Nam. Đã đến lúc nhiều quan niệm truyền thống của chúng ta về ngành nghiên cứu Đông Nam Á cần phải được xem xét lại. Người Việt phải chăng thiếu tri thức và hiểu biết về Đông Nam Á, đặc biệt là các nước láng giềng? Những cách thức chúng ta đang tiếp cận Đông Nam Á học hiện nay? Và Việt Nam đang ở đâu trong sự phát triển của ngành nghiên cứu Đông Nam Á trong khu vực?

I. Khu Vực Học và Toàn Cầu Hóa

Sự ra đời của các ngành khoa học ở thế kỷ XIX là hệ quả của phát triển khoa học kỹ thuật, cách mạng công nghiệp và chủ nghĩa quốc gia dân tộc, cũng vì thế, cách thức phân loại các ngành khoa học, hệ thống giáo dục và cách thức tạo ra tri thức đang được phổ biến một cách rộng rãi ngày hôm nay đều là sản phẩm từ phương Tây.[6] Sự mở rộng của chủ nghĩa thực dân phương Tây ra các khu vực đặt ra những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu các khu vực khác bên ngoài Châu Âu: Đông Phương Học, Ai Cập học, Trung Quốc học, Ấn Độ học..  Vì thế, nền tảng tri thức khoa học về Đông Nam Á mà chúng ta kế thừa qua hàng thế kỷ thực dân là sản phẩm từ cách tư duy phương Tây và lấy châu Âu làm trung tâm (Eurocentricism), như cách nói của Van Leur, đó là Đông Nam Á được nhìn “từ sàn các con tàu, thành lũy của các công sự, và từ sảnh trưng bày của các thương điếm”.[7]

Sự phát triển của nghiên cứu Đông Nam Á trong thế kỷ XX cho thấy sự dịch chuyển của các luồng tri thức phản ánh về khu vực thông qua chuyển dịch cách thức tiếp cận, phương pháp nghiên cứu qua nhiều thế hệ các nhà Đông Nam Á học đến từ trong và ngoài khu vực. Bước phát triển quan trọng của nghiên cứu khu vực học ở thế kỷ XX là chiến Tranh Lạnh và chiến lược địa chính trị toàn cầu của các cường quốc. Ban đầu, chính địa chính trị chứ không phải nhu cầu nghiên cứu học thuật giúp cho việc phân chia và định hình các vùng nghiên cứu mà chúng ta có ngày hôm nay. Chính vì thế, bản thân nghiên cứu Đông Nam Á ngay từ đầu được coi là sản phẩm của các nỗ lực của Mỹ nhằm phục vụ cho nhu cầu duy trì và phát huy ảnh hưởng của họ. Điều này dẫn đến thực tế nhược điểm đã được chỉ ra của ngành, đó là thiếu lý thuyết nghiên cứu và các phương pháp luận có tính hệ thống.[8]

Vào cuối những năm 1950s, tại Đại học Cornell đã hình thành nên thế hệ đầu tiên của các nhà nghiên cứu Đông Nam Á, và đến giai đoạn 1960s và 1970s, với sự leo thang chiến tranh Việt Nam tạo ra chuyển biến thúc đẩy nghiên cứu về Đông Nam Á ở Bắc Mỹ và Châu Âu.  Đây được coi là ‘Kỷ nguyên vàng của nghiên cứu Đông Nam Á” tại Mỹ. Việc nghiên cứu, giảng dạy Đông Nam Á được sự trợ giúp của chính quyền liên bang và luật giáo dục. Hàng loạt các trung tâm nghiên cứu khu vực quy mô đã được thành lập ở California, Northern Illinois, Yale, Michigan.

Từ những năm 1980s, nghiên cứu Đông Nam Á có dấu hiệu khủng hoảng và đi xuống, đó là khi các chính phủ phương Tây đã không còn thấy những lợi ích “trực tiếp” mà ngành này đem lại sau khi ảnh hưởng của họ tại đây suy giảm đáng kể sau chiến tranh Việt Nam. Các học giả như B. Anderson, G. Kahin đã mô tả “sự khủng hoảng” của nghiên cứu Đông Nam Á. Cuộc tranh luận này kéo dài đến những năm 1990s, khi các học giả đặt lại cơ sở của nghiên cứu khu vực Đông Nam Á với tư cách là một khoa học. Và rằng nghiên cứu Đông Nam Á đã trở nên lạc hậu so với thực tiễn năng động của khu vực.[9] Những phên phán này đã đưa trở lại cuộc tranh luận về tính nhị nguyên của tri thức Đông Nam Á: góc nhìn của “người bên ngoài” và “người bản địa”. Phần lớn các nhà Đông Nam Á học ở những thế hệ đầu tiên đến từ Âu Mỹ, nhiều người là viên chức thuộc địa và quân đội, vì thế, các chỉ trích cho rằng đã áp đặt các mô hình và khái niệm phương Tây vào Đông Nam Á một cách máy móc để tạo ra các tri thức đơn thuần diễn dịch thế giới quan Châu Âu.

Dĩ nhiên là không phải chờ đến khi người Phương Tây đến thì khu vực này mới được nghiên cứu và các tri thức về các khu vực này mới trở thành “khoa học”. Nhận thức khu vực đã được các cộng đồng bản địa tích lũy trong suốt chiều dài lịch sử của họ, có điều là nó không được “diễn đạt” theo cách cách thức của Châu Âu.

Chính vì thế xuất hiện lời kêu gọi của một số nhà nghiên cứu chủ trường thay thế các khái niệm phương Tây bằng cách sử dụng tri thức bản địa mà theo mô tả của họ là sử dụng khái niệm Đông Nam Á để hiểu và mô tả Đông Nam Á. Bằng việc lấy Châu Á làm trung tâm (Asiacentric), thay thế cho việc sử dụng lí thuyết phương Tây, hàng loạt các khái niệm mới đã xuất hiện trong giới nghiên cứu khu vực để mô tả trạng thái chính trị, quan hệ vương quyền, nhà nước, xã hội thuộc địa, quan niệm về quyền lực ở Đông Nam Á: “mandala”, “theatre state”, “galatic polity”, “geobody”, “moral economy”, “weapon of the weak”, “immagned communities”. Các khái niệm này, sau đó đã trở nên phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và được áp dụng trong các khu vực học khác.[10]

Toàn cầu hóa đưa đến hai thách thức lớn cho nghiên cứu Đông Nam Á. Thứ nhất là dòng chảy thương mại, kỹ thuật, nhân công, dân cư, … xuyên qua các đường ranh giới địa lý khu vực. Vì thế, nghiên cứu khu vực học trở nên quá chặt hẹp khi tự trói mình trong các đường biên địa lý và lãnh thổ quốc gia. Thứ hai là thách thức về mặt lí thuyết nghiên cứu.  Điểm yếu lí thuyết của ngành một lần nữa lại được lật lại khi nó bị phê phán và chỉ được coi là lĩnh vực nghiên cứu “trung gian” giữa nghiên cứu chuyên ngành và nghiên cứu toàn cầu hóa. Đồng thời, nó cũng không tạo ra được những kết nối giữa tri thức bản địa và tri thức toàn cầu, giữa các quan điểm học thuật phương Tây và tri thức bản địa.

Trong khi đó, nghiên cứu Toàn cầu (Global Studies) là một ngành nghiên cứu mới và đang phát triển nhanh chóng. Đối tượng ngành này hướng tới  là những hiện tượng cũ: sự kết nối đa dạng của các nền văn hóa, văn minh và tộc người trong một diễn trình lâu dài thông qua các đế chế, các cuộc chinh phục, các dòng chảy thương mại và các cuộc thám hiểm cho đến tiến trình toàn cầu hóa thời hiện đại.[11] Khi đó, lịch sử của mỗi tộc người và quốc gia được mô tả như là một mắt xích của hệ thống thế giới đa trung tâm. Các nghiên cứu mới vì thế hướng vào các “dòng chảy” di cư, chuyển giao kỹ thuật, thương mại, chiến tranh, viễn chinh, mở rộng lãnh thổ, văn hóa, văn minh… hơn là các không gian địa lí cố định, và luôn có xu thế tạo ra các không gian mới vượt qua các phân vùng địa lí.

Xung đột giữa lí thuyết nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành, đa ngành, khu vực học và nghiên cứu toàn cầu đang đòi hỏi những cách thức tiếp cận năng động, đòi hỏi sự “phá hủy” các đường gianh giới địa lí và các không gian địa chính trị đang “giam hãm” sự mở rộng của tri thức học thuật đến các đường biên, đường viền, ngoại vi của các không gian học thuật mới, cũng như ngăn cản việc xác lập các không gian nghiên cứu mới là đối tượng của khoa học. Theo Van Schendel, cách phân chia khu vực học hiện tại đang làm cho nhiều khu vực và nhóm người trở nên “vô hình”, không được nhận biết là đối tượng nghiên cứu. Vùng đất ông lấy làm ví dụ, Zomia bao gồm các nhóm sắc tộc nằm trên khu vực núi kéo dài từ Trường Sơn của Việt Nam, qua Vân Nam, Tây Tạng, Myanmar, Bắc Ấn Độ và kéo dài đến Afganistan. Lịch sử của vùng đất này dường như bị “lãng quên” bởi các phân vùng khu vực học hiện tại khi nó nằm giữa Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á và Tây Á.[12] Trong khi những người khác kêu gọi kết hợp Trung Hoa và Đông Nam Á thành Sino-Pacifica, một tiểu vùng trong nghiên cứu lịch sử toàn cầu. Lập luận này cho rằng có nhiều đặc trưng tộc người, văn hóa, văn minh và các làn sóng lịch sử đã kết nối Trung Quốc với Đông Nam Á.[13]

Các ví dụ này cho thấy ảnh hưởng của tư duy toàn cầu hóa và nhu cầu tái cấu trúc lại không gian của khu vực học một cách đa dạng trong đó các nhà nghiên cứu có thể chuyển dịch các giới hạn địa lý truyền thống cho phù hợp với lĩnh vực khảo sát của mình và tạo ra các dòng tri thức mới dựa trên các phân vùng địa lí chưa được định hình.

II. Nghiên cứu Đông Nam Á: ở Đông Nam Á và bởi Người Đông Nam Á

Trong khi nghiên cứu Đông Nam Á đang có khuynh hướng thu hẹp ở  phương Tây, sự phát triển của ngành này đang tạo ra tính năng động cho nghiên cứu học thuật ở Đông Nam Á nói riêng và Châu Á Thái Bình Dương nói chung. Ở cấp độ khu vực, các trường Đại học của Singapore, Malaysia và Thailand hiện đang dẫn đầu xu hướng này bằng cách phát triển các trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á tầm cỡ thế giới, hướng đến mục tiêu dần thay thế các trung tâm truyền thống ở Châu Âu và Bắc Mỹ, nơi mà các mối quan tâm của họ có vẻ như đang dịch chuyển sang Mỹ Latinh, thế giới Hồi giáo, Đông Âu và Nga, hoặc sự nổi lên của Trung Quốc. National University of Singapore (NUS), Institutite of Southeast Asian Studies (ISEAS, Singapore), University of Malaya (UM, Malaysia), Thammasat University (Thailand), Chulalongkorn University (Thailand), Chiang Mai University (Thailand), Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Việt Nam) hiện đang đóng vai trò là các trung tâm nghiên cứu và đào tạo ngành Đông Nam Á học với các chương trình quốc tế và quy mô trao đổi học thuật rộng lớn. Institute of Southeast Asian Studies (Singapore) thành lập năm 1971 và Southeast Asian Studies Regional Exchange Program (SEASREP) năm 1994 đang nỗ lực tiến hành các trao đổi học giả ở cấp độ khu vực và cầu nối với các học giả bên ngoài nhằm đa dạng hóa và quốc tế hóa môi trường nghiên cứu Đông Nam Á.Vì thế, tạo ra nhiều cơ hội để mở rộng các quỹ và chương trình nghiên cứu, đặc biệt là thúc đẩy sự tham gia của các học giả bản địa.[14] Tại hai trường đại học lớn nhất của Thailand là Chulalongkorn và Thammasat đều có chương trình đào tạo Đông Nam Á học, hàng năm tổ chức các chuyến thực tế sang các nước khu vực và tổ chức chương trình học ngôn ngữ Đông Nam Á.

Quá trình này tạo ra sự chuyển dịch của mạng lưới nghiên cứu Đông Nam Á thế giới, và trung tâm của nó đang dần chuyển dịch sang Châu Á Thái Bình Dương và Đông Nam Á. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa khu vực (regionalism), phát triển của ASEAN thúc đẩy nhu cầu nghiên cứu Đông Nam Á ở một cấp độ mới, phục vụ cho tầm nhìn “nhất thể hóa”. Vì thế, nghiên cứu Đông Nam Á trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với mỗi thành viên trong khu vực. Chính khu vực hóa và toàn cầu hóa là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nghiên cứu Đông Nam Á và thúc đẩy sự phát triển của nó trong môi trường học thuật tại khu vực.

Sự chuyển dịch này đang và sẽ tạo ra thế hệ các học giả nghiên cứu Đông Nam Á xuất thân từ chính khu vực và sử dụng các cách thức tiếp cận mới phi-Châu Âu (Non-European) để nhận thức về khu vực của mình không chỉ với tư cách là một bộ phận của các trào lưu toàn cầu hóa, mà còn thách thức lại các khối tri thức được định hình qua hàng thế kỷ bởi các trường phái học thuật lấy châu Âu làm trung tâm. Sự hình thành của thế hệ các nhà nghiên cứu bản địa, với trình độ đào tạo đa dạng, từ Âu Mỹ hoặc trong khu vực, tham gia định hình tương lai của ngành. Tính đa dạng hóa của các nhà Đông Nam Á học còn được phản ánh qua vai trò của những nhóm có liên hệ với Đông Nam Á, từ chỗ là những viên chức thuộc địa cho đến thế hệ con cháu của những người Đông Nam Á di cư do những biến động chính trị những năm 1970s-1980s. Trong trường hợp các học giả nghiên cứu Việt Nam, đó là thế hệ Việt kiều, những người được kỳ vọng là “tương lai của ngành Việt Nam học” ở Bắc Mỹ, Úc hay Âu châu.[15]

Rõ ràng là trong khung cảnh khu vực hóa Đông Nam Á, triển vọng của ngành đã được gắn những mục tiêu mới phục vụ trực tiếp cho nhu cầu thúc đẩy hợp tác, giao lưu và tăng cường hiểu biết trong khu vực, hơn là phục vụ cho mục tiêu của những người “bên ngoài” để hiểu khu vực”. Các chương trình đào tạo, nghiên cứu được thực hiện bởi các học giả Đông Nam Á cũng trở nên phong phú mà một trong những mục tiêu quan trọng là giúp vượt qua những di sản của quá khứ và hận thù dân tộc, xung đột văn hóa và tranh chấp lãnh thổ để tiến tới kết nối các hệ thống tri thức và hiểu biết chung có tính khu vực, vượt qua tư duy dân tộc chủ nghĩa.[16]

Việc xác lập của các trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á tới khu vực cũng giải quyết cuộc tranh luận lâu dài về xung đột góc nhìn phản ánh qua tri thức học thuật, giữa “Đông” và “Tây’, giữa “kẻ bên ngoài” và “người bên trong”. Bản thân các nhà nghiên cứu phương Tây cũng đã thừa nhận rằng, tương lai của nghiên cứu Đông Nam Á nằm ở chính Đông Nam Á và ở trong tay của các học giả Đông Nam Á.[17] Thế hệ các học giả mới là những người được khuyến khích không đơn thuần dựa vào lí thuyết phương Tây hay các cách thức tiếp cận đối với toàn cầu hóa mà còn tự do và sáng tạo phát triển nên các lí thuyết nghiên cứu có tính riêng biệt và đặc thù cho Đông Nam Á bằng cách kết hợp với các lí thuyết hiện có hay phát triển độc lập. Một số học giả đã gọi tên xu hướng lí thuyết mới này là “Lí thuyết toàn cầu phương Nam” (Theory of the Global South).[18]

III. Việt Nam ở Giao Điểm của Nghiên Cứu Khu Vực và Nghiên Cứu Toàn Cầu

Bản thân vị trí địa lý của Việt Nam đã phản ánh giao điểm này. Tuy nhiên, sự nhận thức về lịch sử của người Việt bị hạn chế trong hai khuynh hướng quan trọng. Thứ nhất là lấy lịch sử của người Việt làm trung tâm. Lịch sử Việt Nam thường được nhìn nhận là lịch sử của nhóm tộc người đa số, lấy các biên niên sử triều đại và lăng kính của hoàng cung hay kinh thành làm chuẩn mực. Vì thế, đó là lịch sử được viết từ góc nhìn của Thăng Long, Huế hay Sài Gòn. Dĩ nhiên, quá khứ hàng nghìn năm của các nhóm cư dân trên lãnh thổ Việt Nam là sống động và đa dạng hơn thế.

Góc nhìn thứ hai đối với lịch sử Việt Nam đó là lịch sử chống ngoại xâm, và coi đó là đặc trưng xuyên suốt và chủ đạo của cách thức người Việt tương tác với thế giới bên ngoài. Chống ngoại xâm định hình nên truyền thống, và bản sắc dân tộc. Thực tiễn cho thấy chống xâm lăng là một diễn trình quan trọng của lịch sử Việt Nam. Nhưng cũng cần thừa nhận công bằng rằng bên cạnh tiến hành chiến tranh, người Việt còn tương tác với thế giới bên ngoài, thậm chí là với các đế quốc phương bắc bằng nhiều cách thức khác nhau. Thái độ của người Việt đối với các nhân tố bên ngoài không phải bao giờ cũng “chống”. Dĩ nhiên, chủ đề này chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nghiên cứu sử học trong thời kỳ chiến tranh. Nhưng nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng súng cuối cùng chấm dứt, và lịch sử cần được nhìn một cách đa dạng như nó vốn có.

Nhận thức được hai xu hướng viết sử này của nền học thuật Việt Nam hiện tại giúp chúng ta có thể tiếp cận các diễn trình lịch sử khác một cách thích hợp và gắn kết nghiên cứu Việt Nam trong dòng chảy của nghiên cứu khu vực và toàn cầu hóa. Thuật viết sử mới, bao gồm có xu thế viết lịch sử toàn cầu (Global History) và lịch sử xuyên quốc gia (Transnational History) thách thức các cách mô tả cũ của giới sử gia bằng cách yêu cầu các diễn dịch mới trong đó đặt các dân tộc và quốc gia trong sự tương tác dọc theo và vượt qua các đường gianh giới địa lý và văn hóa truyền thống, và đặt chúng trong thế đối sánh với các mô hình lịch sử ở những khu vực khác.[19]

Việt Nam nằm ở giao điểm của các làn sóng di cư, kỹ thuật, văn hóa và văn minh khu vực và toàn cầu và hoàn toàn có khả năng kết nối trong một khung cảnh rộng hơn của các mô tả lịch sử khu vực và quốc tế. Từ cuộc di cư và tương tác của các nhóm người Nam Á, Nam Đảo kéo dài liên tục từ 7000 năm trước cho đến sự lan truyền của nghề nông, chế tác đồ đồng, mở rộng của các đường biên “Hán hóa”, làn sóng Mông Cổ, giao lưu thương mại biển, quá trình chuyển giao thuốc súng và kỹ thuật quân sự tiền hiện đại, cho đến “kỷ nguyên thương mại”, chủ nghĩa thực dân phương Tây, chủ nghĩa dân tộc, chiến tranh lạnh… [20] Bằng cách đặt lịch sử Việt Nam trong mô hình tương tác với khu vực và toàn cầu, sẽ góp phần đa dạng hóa tri thức lịch sử, không chỉ là sản phẩm của quá trình tự phản ánh và lấy người Việt làm trung tâm, mà còn là cách thức người Việt gia nhập và phản ứng với các chuyển biến có tính chất khu vực và toàn cầu. Nghiên cứu gần đây của Victor Lieberman là một nỗ lực như thế khi cố gắng định vị lịch sử Việt Nam ở Đông Nam Á lục địa, trong khung cảnh lịch sử đại lục địa Á-Âu (Eurasia) từ năm 800 đến năm 1830.[21] Nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn nhấn mạnh đến sự can dự thương mại của Việt Nam trong hệ thống thương mại toàn cầu thời sơ kỳ hiện đại.[22] Trong khi ở một góc nhìn khác, coi Việt Nam như một giao điểm của lịch sử địa phương, dân tộc và lịch sử toàn cầu, Vincent Houben gợi ý về bốn giao điểm của lịch sử Việt Nam với lịch sử Đông Nam Á: cuộc tương tác với văn minh Trung Hoa, tương tác biển với phương Tây thời kỳ tiền hiện đại, sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở thế kỷ XX, và công cuộc đổi mới, mở cửa từ những năm 1990s.[23]

Đa dạng hóa và “giải trung tâm hóa” (Decentralizing) góc tiếp cận Việt Nam trong bối cảnh tương tác của các nhóm cư dân phía đông của Đông Nam Á lục địa đem lại nhiều nhận thức mới về cấu trúc và diễn trình tương tác giữa các nhóm miền núi, đồng bằng, sắc tộc, với hành lang thương mại dọc biển Đông và giao lưu Bắc-Nam từ Trung Hoa xuống Đông Nam Á hải đảo. Vì thế, Việt Nam không chỉ là một “giao điểm” mà còn là một môi trường rộng lớn và phức tạp cho các tương tác này. Trong đó, người Việt có thể đóng vai trò chủ đạo ở nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng các nhóm cư dân khác: Campa, Khmer, Hoa kiều, Thái… cũng nắm giữ những vị trí năng động trong mô hình lịch sử vùng. Và vì thế, lịch sử Việt Nam có thể được viết từ “núi”, từ “biển”, từ trung tâm, từ ngoại vi, từ góc độ lịch sử địa phương, lịch sử tự trị, cho đến lịch sử dân tộc, lịch sử vùng và lịch sử toàn cầu.[24]

IV. Tri Thức “Đông Nam Á” của Người Việt và Thay Đổi Cách Thức Tiếp Cận

Ngày 07.01.2013, khi Cambodia trình làng chiếc xe điện tự chế tạo, Angkor EV 2013, giới công nghiệp xe hơi Việt Nam đã bị một phen lúng túng. Trong khi đó, chính phủ Laos vẫn đang tiếp tục triển khai thi công đập Xayaburi bất chấp các phản đối quốc tế, trong đó có yêu cầu từ Việt Nam. Việc Cambodia từ chối đưa vấn đề Biển Đông vào thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 2012, và gần đây nhất là tình trạng bài Việt kiều ở Phnom Penh hay quá trình “dân chủ hóa” ở Myanmar … Tình hình khu vực đã có những chuyển biến quan trọng mà các quan hệ “đồng minh” ý thức hệ thời kỳ chiến tranh lạnh đã thay đổi nhanh chóng. Lợi ích quốc gia trở thành vấn đề cốt lõi và sự can dự của các cường quốc mới nổi bên ngoài yêu cầu Việt Nam hiểu rõ hơn về các thách thức địa chính trị mới đến từ các nước láng giềng.

Rõ ràng là tri thức và cách thức tiếp cận của chúng ta với các nước  lân bang đang đi sau thực tiễn năng động và linh hoạt của tình hình khu vực. Đã đến lúc cần có những thay đổi trong cách thức tiếp cận, nghiên cứu, nhìn nhận Đông Nam Á với cặp mắt cập nhật và thực tế hơn, so với cách thức mà chúng ta vẫn nhìn khu vực được duy trì từ mấy thập kỷ qua.

Chúng ta có thiếu tri thức về Đông Nam Á? Một niềm tin phổ biến trong giới học thuật, không chỉ ở Việt Nam mà còn hầu hết các nước Đông Nam Á, đó là chúng ta thiếu hiểu biết về nhau. Lập luận này có thể không hoàn toàn chính xác khi chúng ta nhìn lại hệ thống dữ liệu phong phú được người Việt phản ánh qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các tri thức này đã không được ghi nhận vì nó “không phù hợp” với hệ quy chiếu và chuẩn mực của khu vực học phương Tây. Câu ngạn ngữ của người Thailand nói rằng, “”Klai Klua kin dang”: “gần muối tìm vôi” cũng như “Bụt chùa nhà không thiêng” trong tiếng Việt đã được viện dẫn để mô tả sự thờ ơ của người Thái với các dân tộc xung quanh và hướng về phương Tây.[25] Niềm tin truyền thống này cho rằng, vì Đông Nam Á lệ thuộc vào các nước lớn bên ngoài, nên hiểu biết của chúng ta về láng giềng là thua kém. Gần đây, sử gia Thongchai Winihakul đã lập luận rằng, điều đó là không đúng trong trường hợp Thailand. [26]

Người Việt không thiếu tri thức về các nước Đông Nam Á láng giềng. Tuy nhiên, cách thức chúng ta sử dụng tri thức đó và thái độ của chúng ta với các dân tộc trong khu vực đang ảnh hưởng đến sự phát triển của nghiên cứu Đông Nam Á học. Với lịch sử tương tác lâu dài và hệ thống sử liệu phong phú, tri thức và hiểu biết của người Việt với các dân tộc láng giềng là vào loại chi tiết nhất nếu so với các hệ thống biên soạn và viết sử thời tiền hiện đại của tất cả các nước Đông Nam Á khác. Tuy nhiên, chúng ta bị giới hạn bởi hệ quy chiếu “văn minh” Trung Hoa khi coi các dân tộc không thực hành Nho giáo là man di. Đây là di sản của lịch sử và hệ quả của nó vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cách nhìn nhận của chúng ta hiện tại. Trong một thế giới ngày càng lệ thuộc chặt chẽ lẫn nhau, quan hệ giữa Việt Nam với Laos, Cambodia, Myanmar, Thailand cũng quan trọng như đối với bất cứ cường quốc bên ngoài nào.

Tri thức của  người Việt về Đông Nam Á cũng dựa trên việc lấy người Việt là trung tâm, mô tả Đại Nam như một “đế chế” và hướng vào ghi chép hay nghiên cứu những vấn đề liên quan đến Việt Nam, hay quan hệ giữa Việt Nam với các nước. Việc coi Laos, Cambodia là các nước “phiên thuộc” trong quá khứ, và là những người “em” cộng sản trong thế kỷ XX, coi Thailand là kẻ đối địch trong vấn đề Cambodia thời Nguyễn, và “tay sai” của đế quốc Mỹ trong chiến tranh chống Mỹ 1954-1975 vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức chúng ta viết sử và dạy sử khu vực. Việt Nam đã có những đóng góp lớn đối với lịch sử khu vực cũng như đối với các dân tộc này. Nhà Trần đã ba lần đánh bại quân Mông-Nguyên ở cửa ngõ Đông Nam Á. Tuy nhiên Đại Việt không phải là nước duy nhất trong khu vực làm được kỳ tích này. Người Myanamar và Java cũng viết những trang sử tương tự.[27] Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, nhưng trước đó, đạo quân này từng bốn lần đại bại dưới tay người Miến, và trong một hành động mang tính biểu tượng, kẻ xâm lược đã phải tự tay nấu chảy tất cả súng ống và đốt thuyền bè trước khi rút lui.[28] Nhà Nguyễn từng tạo thế cân bằng với Thailand tại Cambodia và giúp cho vương triều này tồn tại mà không hoàn toàn lệ thuộc vào Bangkok. Người Việt cũng đã giúp Cambodia thoát khỏi ách diệt chủng Pol Pot, đã giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Lào ở thế kỷ XX. Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy hệ quả khi chúng ta đánh giá sai lầm khả năng của các nước láng giềng. Đó là tình thế của quân Nguyễn ở Phnom Penh từ 1838 đến 1845 và sau này là cuộc chiến một thập kỷ chống tàn dư Khmer đỏ.

Cần phải có được cách tiếp cận đa chiều trong cách thức viết sử, dạy sử về các nước lân bang, cũng như hiểu biết về nhận thức của láng giềng dành cho người Việt. Lịch sử dân tộc chủ nghĩa từ khung cảnh Thailand luôn đề cao vai trò của họ đã giúp triều Nguyễn “sống xót” để cuối cùng thành có sự thống nhất vào năm 1802. Họ cũng mô tả rằng, chính việc Đại Nam tuyên bố chủ quyền đối với Laos và Cambodia, mà sau này người Pháp lấy cớ đó chiếm hai nước này làm thuộc địa những năm 1880s-1890s, vì thế, Siam mất đi “lãnh thổ” của mình.[29] Hay ở một góc khác ít được biết đến, các biên niên sử Khmer vẫn nhắc lại các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Cambodia chống lại người Việt ở đầu thế kỷ XIX.[30]

Vì vậy, việc đánh giá lại hệ thống tri thức về Đông Nam Á của người Việt và cách thức lịch sử các nước láng giềng được nghiên cứu, giảng dạy và đối sánh nó với các hệ quy chiếu từ bên ngoài giúp định vị lại vai trò của Việt Nam trong tiến trình lịch sử khu vực và toàn cầu như một nỗ lực của hội nhập, sự hội nhập về mặt tri thức.

KẾT LUẬN

Tiến sĩ Henry Kissinger trong bài phát biểu tại hội nghị an ninh Munich (Đức) lần thứ 50 (2014) đã so sánh Châu Á của thế kỷ XXI mang những ẩn tàng xung đột quân sự và thù nghịch như những gì ở châu Âu thế kỷ XIX.[31] Điều này có thể mang tính cảnh báo nhiều hơn là thực tế, tuy nhiên nó hàm ý về tính sôi động chính trị và quân sự ở đây mà các nghiên cứu mang tính khu vực là cần thiết để hiểu về xu thế, các nguy cơ và triển vọng. Đông Nam Á nằm ở giữa các hành lang an ninh và kinh tế Thái Bình Dương, xuyên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, vì thế mà nó cũng được kỳ vọng sẽ kéo theo sự phát triển của các trung tâm học thuật mới nghiên cứu về Đông Nam Á và các cấu trúc mở rộng. Đó là cơ hội của giới học thuật đóng góp vào tiến trình khu vực hóa và toàn cầu hóa của tri thức, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về tính cấp thiết của việc thay đổi cách tiếp cận và đa dạng hóa lí thuyết phản ánh, bên cạnh khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa và lấy người Việt làm trung tâm.

Nhận thức sự thay đổi của nghiên cứu khu vực học, hội nhập vào môi trường học thuật thế giới là yêu cần cấp thiết của giới hàn lâm Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong nỗ lực tìm kiếm mô hình phát triển và đóng vai trò mới trong thời kỳ khu vực hóa và toàn cầu hóa. Để làm điều đó, chúng ta không chỉ cần lí thuyết hay cách thức tiếp cận mới, mà quan trọng hơn là định vị lại lịch sử Việt Nam và người Việt trong không gian khu vực. Đánh giá lại cách thức của các mối tương tác của quá khứ làm cơ sở cho sự hội nhập của hiện tại và tương lai.

notes:

[1] Francis Fukuyama, The End of History and the Last Man (New York: Simon and Schuster, 2006); Thomas L. Friedman, The Lexus and the Olive Tree: Understanding Globalization (New York: Picador; 2012), idem, The World Is Flat 3.0: A Brief History of the Twenty-first Century (New York: Picador, 2007)

[2] Goh Beng-Lan, Disciplines and Area Studies in the Global Age: Southeast Asian Reflections, in Decentring and Diversifying Southeast Asian Studies: Perspectives from the Region, ed., Goh Beng-Lan (Singapore: ISEAS, 2011), pp. 1-2

[3]  http://www.leidenglobal.org/

[4]  http://www.sophia.ac.jp/eng/studentlife/academic_services/bulletin/2014bulletin-Graduate/bulletin_gpgs

Also, Kono Yasuyuki, Evolution of Southeast Asian Studies in Japan and Its Global Implications, keynote speech, Annual Taiwan Conference on Southeast Asian Studies, Academia Sinica, Taiwan: April 15-26th, 2014

[5] Edward W. Said, Orientalism (Knopf: 1979)

[6] Vicent Houben, The New Area Studies and Southeast Asian History, Dorisea Working Paper Vol. 4. (Göttingen: 2013), p. 3

[7] J. C. Van Leur, Indonesia Trade and Society: Essays in Asian Social and Economic History (The Hague: van Hoeve, 1955), P. 261

[8] Benedict  Anderson, Studies of the Thai State: The Sate of Thai Studies, in E. ayal, ed., The State of Thai Studies: Analyses of Knowledge, Approaches, and Political science (Athen, Ohio: Ohio Universty Center for International Studies, Southeast Asian Studies Program, 1978), p. 232; Donald K. Emmerson, “Southeast Asia”: What’s in a Name? Journal of Soutehast Asian Studies, 15 (1984), pp. 7-10

[9] Ruth Mcvey, Changing and Continuity in Southeast Asian Studies, Journal of Southeast Asian Studies, 26 (1995), p. 6

[10] Geertz, Clifford Negara: The Theatre State in Nineteenth-Century Bali (Princeton, NJ: Princeton University Press: 1980); Oliver W. Wolters, History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives (Singpapore: ISEAS, Revised edition, 1999); Renée Hagesteijn (1989), Circles of Kings: Political Dynamics in Early Continental Southeast Asia, Verhandelingen van het Koninklijk Instituut voor Taal-, Land- en Volkenkunde (138), Dordrecht and Providence, RI: Foris Publications; Stanley J. Tambiah (1977), “The Galactic Polity. The Structure of Traditional Kingdoms in Southeast Asia”, Anthropology and the Climate of Opinion, Annals of the New York Academy of Sciences (New York) 293: 69–97; Benedict Anderson, Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism (London: Verso, 2006); Thongchai Winichakul, Siam Mapped: A History of the Geo-Body of a Nation (Honolulu: University of Hawaii Press, 1994); James C. Scott, The Moral Economy of the Peasant: Rebellion and Subsistence in Southeast Asia (New Haven: Yale University Press, 1977); James C. Scott , Weapons of the Weak: Everyday Forms of Peasant Resistance (New haven: Yale University Press, 2008)

[11] Patricia J. Campbell, Aran MacKinnon, and Christy R. Stevens, An Introduction to Global Studies (Wiley-Blackwell, 2010)

[12] Willem Van Schendel, Geographies of knowing, Geographies of Ignorance: Juping Scale in Southeast Asia, in Locating Southeast Asia: geographies of Knowledge and Politics of Space, eds., Paul H. Kratoska, Reco Raben, and Henk Schulte Nordholt, (Singapore: NUS Press, 2005), pp. 275-307

[13] Andrew J. Abalahin, “Sino-Pacifica”: Conceptualizing Greater Southeast Asia as a Sub-Area of World History, Journal of World History, Vol. 22 (2011), No. 4. pp, 659-691

[14] Trần Thị Vinh, Hội nhập khu vực về nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đông Nam Á: vấn đề đặt ra cho các trường đại học Việt Nam, Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (2004), tr. 46-48

[15] Peter Zinoman, “Vietnamese Americans and the Future of Vietnamese Studies in the United States”. In Southeast Asian Studies: Pacific Perspectives, edited by A. Reid, (Tempe, Arizona: SEA Program of Arizona State University and University of California at Los Angeles, 2003), pp. 295–307

[16] Vu Duc Liem, “Weaving Mekong, Connecting Pasts, and Integrating Future: ASEAN’s Young Scholarly Connectivity”, Conference on Southeast Asian Studies in ASEAN and Global Context, Bangkok: Chulalongkorn Univesity : June 2nd, 2014

[17] Victor T. King, Defining Southeast Asia and the Crisis in Area Studies: Personal Reflection on a Region,  in Southeast Asian Studies: Debates and New Directions, eds., Cynthia Chou and Vincent Houben (Singapore: ISEAS, 2006), pp. 38-39

[18] Boike Rehbein, Critical Theory after the Rise of the Global South,  Transcience Journal, Vol. 1, No. 2 (2010), pp. 1-17

[19] Patrick Manning, Navigating World History: Historians Create a Global Past (Palgrave Macmillan, 2003). Một nỗ lực gần đây nhất của học giả Việt Nam nhằm đa dạng hóa cách thức tiếp cận lịch sử người Việt chính là Tạ Đức, Nguồn gốc Người Việt-Người Mường, Hà Nội: Nxb Tri Thức, 2014, tuy nhiên rõ ràng là công trình này có nhiều vấn đề cần phải thảo luận lại cả về lập luận lẫn tư liệu.

[20]  Wilhelm G., II Solheim, David Bulbeck, and Ambika Flavel, Archaeology and Culture in Southeast Asia: Unraveling the Nusantao (Honolulu: University of Hawai’i Press: 2007); Charles Holcombe, Early Imperial China’s Deep South: The Viet Regions through Tang Times, T’ANG STUDIES, 15-16 (1997-98), pp. 125-56; Sun Laichen, Military Technology Transfers from Ming China and the Emergence of Northern Mainland Southeast Asia (c. 1390-1527), Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 34, No. 3 (Oct., 2003), pp. 495-517; Anthorny Reid, Southeast Asian in the Age of Commerce, 2 vols (New Haven: Yale University Press, 1988/1993)

[21] Victor Lieberman, Strages Parallels, 2 vols (Cambridge: Cambridge University Press, 2003, 2009)

[22] Hoàng Anh Tuấn, Quốc tế hoá lịch sử dân tộc: Toàn cầu hoá cận đại sơ kì và lịch sử Việt Nam thế kỉ XVII, in trong: Nhiều tác giả, Di sản lịch sử và những hướng tiếp cận mới (Tủ sách khoa học xã hội – Chuyên khảo về Khảo cổ học và Lịch sử – do Viện Harvard Yenching, Đại học Harvard, tài trợ xuất bản), Nxb. Thế Giới, H., 2011, tr. 247-282; cùng tác giả, Khu vực học và Nghiên cứu Toàn cầu: Quá trình lịch sử và khuynh hướng phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Hà Nội, 12/2011, tr. 35-44.

[23] Vincent Houben, Việt Nam trong khung cảnh Đông Nam Á: Những giao điểm và sự so sánh, Tham luận tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 từ ngày 5-7/12/2008

[24] Nhung Tuyet Tran & Anthony Reid, eds., Vietnam, Borderless Histories (Madison, Wisconsin: University of Wisonsin Press, 2006); Oscar Samelink, Trading goods, prestige and power. A revisionist history of lowlander – highlander relation Vietna, in Linking Destinies. Trade, Towns and Kin in Asian History, eds., Peter Boomgaard, Dick Kooiman, and Henk Schulte Nordholt Leiden: KITLV Press 2008); Li Tana, A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnamese Coast, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 37, No. 1 (Feb., 2006), pp. 83-102; Charles Wheeler , Re-Thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận-Quảng, Seventeenth-Eighteenth Centuries, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 37, No. 1 (Feb., 2006), pp. 123-153; James C. Scott, The Art of Not Being Governed: An Anarchist History of Upland Southeast Asia (New Haven: Yale Agrarian Studies, Yale University Press, 2009)

[25] Charnvit Kasetsiri, et al., comp., Bannanukrom esia a-kha-ne suka nai pratet thai [A Bibliography of Southeast Asian Studies in Thailand], 2nd priting (Bangkok: Thailand Research Fund, 1995), p. 9

[26] Thongchai Winichakul, Trying to Locate Southeast Asian from Its Navel: Where is Southeast Asian Studies in Thailand, in Locating Southeast Asia: geographies of knowledge and politics of space, eds., Paul H. Kratoska, Remco Raben, Henk Schulte Nordholt (Singapore: Singapore University Press, 2005)

[27] Daniel George Edward Hall , A History of South-East Asia (Palgrave Macmillan, 1981)

[28] Yingcong Dai, A Disguised Defeat: The Myanmar Campaign of the Qing Dynasty, Modern Asian Studies, Vol. 38, No. 1 (Feb., 2004), pp. 169

[29] Thongchai Winichakul, Trying to Locate, pp. 120-121

[30] David P. Chandler , An Anti-Vietnamese Rebellion in Early Nineteenth Century Cambodia: Pre-Colonial Imperialism and a Pre-Nationalist Response, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 6, No. 1 (Mar., 1975), pp. 16-24

[31] http://www.bloomberg.com/news/2014-02-02/kissinger-says-asia-is-like-19th-century-europe-on-use-of-force.html

Nghiên cứu Lịch sử, số 1/ 2016

A VIETNAM’S OFFICIAL RESPONSE TO PROF. KEITH W. TAYLOR

I always look for a fair and straightforward dialogue between Vietnamese and foreign scholarship on various historical topics, but in return, it always fails me because I have not seen such conversation at least since the 1960s. One upon a time, Dao Duy Anh, Tran Van Giap, Hoang Xuan Han, Tran Duc Thao…  clearly reached the world standard of academic research and deserved a great deal of respect from their western counterparts. The glorious days were far away.

For a historical dialogue between Vietnamese and Western scholars, there are two important obstacles I think need to be adjusted.

First, Vietnamese scholars are likely not to stand on the same ground, theoretically and in term of methodology to “fight back”. As far as I concern among Vietnamese academic communities, there is very little afford to keep updated with new development of the world of academia abroad. So it seems that both are speaking in different languages.

Second, language barrier, since most historians today in Vietnam were trained in either Russia, East tern Europe or China, and to the rest, in Vietnam. English is obviously not their favorite language of expression. Few historical works thus have been produced in English. More importantly, historical trajectory of the 20th century causes serious damage to the way in which historian accesses to material of the past. In fact, most historians of premodern Vietnam are not unable to master literary Chinese which is essential to go through materials and make points of their arguments.

Therefore, instead of discussing other arguments and making the case evidently, they tend to take a detour which sometimes not necessarily concerns to their targeted academic works.

In 2015, prof. Keith Taylor was awarded the Phan Chau Trinh prize for his remarkable contribution to Vietnamese studies.  At the same time, I find an article on “The People”, daily newspaper in Vietnam responds to the news, “In the Name of History to distort Vietnamese History”. This article seems interesting for me in the way in which the ‘foreign prof.” is portrayed and the kind of language used to criticize his research ideas.

taylor 1

The article starts, “recently, “a” Cultural Foundation in Vietnam awarded its 2015 prizes for several authors, including K. Taylor – an American historian. In the welcoming speech, the foundation’s representative said that, “Keith Taylor is among the most famous scholars of Vietnamese studies both in Vietnam and abroad”. He then “thanks Keith Taylor for the true love and extraordinary commitment to Vietnamese history, and Vietnam”. So who is Keith Taylor, how he researches Vietnamese history? This two-part article by Nguyen Dinh will reveal those questions”.

In the first part, this paper focuses on Taylor’s personal life events chronologically, and the aim is to make sense how and why the historian comes to Vietnamese history. The author selects some of the Taylor’s papers, especially, “How I Began to Teach about the Vietnam War”, and so on, but all are accessed though many websites of Vietnamese translation.

In short, it claims that the young Taylor had nothing to do with Vietnamese history.

taylor 2

“He chose to learn Vietnamese during the military training with the hope that the war will end before the two-year training finished. But the hope never came true because in 1970, he was sent to Vietnam…”

The article continues with the 1970-dissatisfied Taylor who was utterly discontented with the war, and the 1971-wounded Taylor who “was losing direction”.

The author suggests that continuing study on Vietnam, Taylor tried to find a new way of life and to break up with the miserable heritage of the past. Thus, Taylor utilizes the invented interpretation of Vietnamese history to act as counsel for the American tragic mistake, and to rescue himself from a guilty feeling that he has painfully lived with for a quarter of a century.

In another words, Taylor’s biographical events seems to be a perfect evidence to explain why he writes history in such way.

VẤN ĐỀ “HOẶC-HOẶC- MÀ KHÔNG PHẢI – TẠI SAO” TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

By Le Minh Khai

Sau khi viết post đưới đây về sự đánh giá lại Triệu Đà của Ngô Thì Sĩ, tôi ghé qua một trang Wikipedia tiếng Việt về “Vấn đề chính thống của nhà Triệu”.

trieu da

Trang web này đề cập vấn đề mà nhiều học giả Việt Nam đã thảo luận, đó là liệu có phải vương quốc mà Triệu Đà thiết lập ở cuối thế kỷ III TCN, Nam Việt, có thể được xem là một phần “chính thống” của các triều đại Việt Nam bắt đầu với nhân vật huyền thoại An Dương Vương trong thời kỳ xa xưa cho đến chính quyền Việt Nam thời hiện nay.

Đọc thông tin trong trang web này, điều làm tôi “bị kích thích” là “vấn đề này là một ví dụ tốt của vấn đề lớn hơn liên quan đến cách thức lịch sử Việt Nam được giảng dạy và thảo luận ở Việt Nam. Nói trắng ra, các sử gia Việt Nam nói về quá khứ như là “hoặc/ hoặc”, mà rất hiếm, hầu như không nói về “tại sao”.

Về vấn đề tính chính thống của Triệu Đà, một mặt trang web này nói rằng có một lịch sử lâu dài nhìn Triệu Đà như là một phần chính thống của quyền lực chính trị  Việt Nam. Lập luận này có lẽ khởi đầu bởi Lê Văn Hưu ở thế kỷ XIII và được nhắc lại bởi những người khác (Lê Tắc, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, các sử gia nhà Nguyễn, ect.,) cho đến tận thế kỷ XX (Trần Trọng Kim, Hồ Chí Minh).

Mặt khác, trang này cũng nói về thiểu số ý kiến trong thời kỳ sơ kỳ hiện đại, đề xuất bởi Ngô Thì Sĩ ở thế kỷ XVIII cho rằng Triệu Đà không phải thuộc dòng dõi chính thống của nền chính trị Việt Nam.

Sau đó, trang này nói rằng từ những năm 1960s, Triệu Đà dần dần bị xem bởi các sử gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (bắc Việt Nam) như là “kẻ thù xâm lược”.

Nói cách khác, ‘vấn đề” này là vấn đề của “hoặc-hoặc”,  “hoặc là “Triệu Đà thuộc dòng dõi chính thống Việt hoặc là không”.

Đối với tôi, vấn đề lớn hơn là tại sao không ai hỏi “tại sao”?

Tại sao Lê Văn Hưu hình thành ý tưởng rằng dòng dõi chính thống bắt đầu với Triệu Đà? Tại sao Ngô Sĩ Liên mở rộng dòng chính thống này đến tận nhân vật huyền thoại Kinh Dương Vương? Tại sao Ngô Thì Sĩ ngghi ngờ tất cả điều này? Tại sao khái niệm “kẻ thù xâm lược’ bắt đầu xuất hiện phổ biến vào những năm 1960s? Tại sao phần lớn các sử gia Việt Nam  ngày nay không đặt ra các câu hỏi này?

Đặt ra các câu hỏi như thế có thể giúp chúng ta vượt qua “hoặc-hoặc” và dẫn đến những hiểu biết sâu sắc hơn về quá khứ và xã hội loài người, cả quá khứ và hiện tại.

Vấn đề thực sự ở đây là không phải liệu Triệu Đà có thuộc dòng dõi chính thống hay mà chính việc chỉ đặt ra và trả lời câu hỏi này chính là “vấn đề”.

ở thế kỷ XX, các sử gia Việt Nam bị ám ảnh bởi câu hỏi “hoặc-hoặc” liên quan đến khái niệm “dân tộc”. Hoặc Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh thống nhất dân tộc? Hoặc Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh là kẻ phản bội hay là những nhà văn hóa.

Có hàng hà sa số các câu hỏi như thế mà các sử gia ViệtNam đã hỏi về quá khứ, nhưng về cơ bản chúng đều là “hoặc-hoặc”, và đều liên quan đến “dân tộc”.

Tại sao người ta không hỏi “tại sao”? Tôi luôn nghĩ rằng thông qua hỏi “tại sao” là điểm khởi đầu của mọi học thuật.

(Hamburg, 28.12.2015)

Source: https://leminhkhai.wordpress.com/2015/12/25/the-problem-of-either-or-but-not-why-in-vietnamese-history/

 

HỌC THUẬT TOÀN CẦU VÀ TỨ TRỤ TRIỀU ĐÌNH KHÁC CỦA GIỚI SỬ VIỆT NAM

Tôi nghĩ về một vài chủ đề mà tôi đã viết trước đây ở blog này: sự khuyến khích hội nhập của Việt Nam với nền học thuật toàn cầu, sự thiếu vắng của nỗ lực kết nối lí thuyết học thuật/ hay sử học từ bên ngoài Việt Nam vào một bộ phận các nhà sử học trong nước trong vài thập kỷ qua; và học thuật của các học giả miền nam Việt Nam như Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương và Lương Kim Định.

lichsu 1

Trong nửa sau của thế kỷ 20, có 4 học giả cùng nhau được ghi nhận là thiết lập nên lĩnh vực nghiên cứu sử học ở Việt Nam, những người được biết đến như là tứ trụ của học thuật lịch sử. Bốn người này đều bắt đầu sự nghiệp của mình ở miền bắc Việt Nam, và sau đó tiếp tục sau khi miền Bắc và miền Nam được thống nhất.

Trong khi thành tựu của họ thực sự đáng được ngợi ca, tôi càng đọc công trình của các nhà sử học khác từ khi Việt Nam bị phân chia, tôi càng nhận ra rằng có các nhà sử học khác cùng đáng nhận được sự công nhận như thế.

Thực tế, thêm vào bốn “tứ trụ” hiện tại, tôi có thể nghĩ đến ít nhất 4 người khác,  Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương, Lương Kim Định, Đào Duy Anh. Ba người đầu tiên sống và làm việc ở miền Nam Việt Nam, trong khi Đào Duy Anh sống và làm việc ở miền Bắc.

Bốn người này không làm việc cùng nhau, và điều tôi có thể nói là một vài trong số họ chắc chắn không phải bạn bè. Tuy nhiên, khi tôi đọc công trình của họ, tôi không thể trốn chạy khỏi câu hỏi nền học thuật lịch sử, đặc biệt là sơ sử ngày nay sẽ như thế nào nếu như bốn người này tạo ra một nền tảng cho các thế hệ sử gia tương lai.

lichsu 2

Khi nền thống trị thực dân ở Việt Nam đang đi đến hồi kết ở những năm sau chiến tranh thế gới thứ 2, các nhà sử học trên cả nước bắt đầu lao vào thử thách nhằm viết lịch sử mới của dân tộc. khi làm thế, họ có sẵn nửa thế kỷ học thuật được tạo ra thời thuộc địa, mà các công trình của họ được tạo dựng trên đó. Tuy nhiên không phải ai cũng làm thế.

Nhìn chung, các học giả từ miền bắc quay lưng lại với nền học thuật thực dân và tìm kiếm cảm  hứng từ mô hình sử học marxit mà họ tiếp nhận từ Trung Quốc hay Liên Xô. Vì thế họ cố gắng khắc họa khi nào Việt Nam trở thành một quốc gia dân tộc theo định nghĩa của Stalin về quốc gia dân tộc, và họ tìm kiếm xem khi nào Việt Nam đã có chế độ nô lệ, một giai đoạn mà sử học marxit xác định rằng tất cả các xã hội đều phải trải qua.

Những thí nghiệm này, tuy nhiên, không tồn tại được lâu, và vì thế, từ những năm 1960, sự cam kết với lí thuyết như thế bị bỏ rơi.

lichsu 3

Đối với tứ trụ khác của sử học Việt Nam, họ tiếp tục cam kết với nền học thuật từ thời thuộc địa. thực sự là sự nghiệp của Đào Duy Anh đã bắt đầu từ những năm 1930s, vì thế, về mặt lí thuyết chúng ta có thể coi ông là học giả của thời kỳ thuộc địa, tuy nhiên công trình của ông trong những năm 1940-50 đã dẫn ông đến một hướng khác, đặc biệt là khi ông tìm cách đọc xuyên qua các tư liệu gốc sơ sử để tìm kiếm các biểu tượng ý nghĩa chưa được công nhận. thêm nữa, Đào Duy Anh có thể đến với những ý tưởng như thế bởi vì ông không chỉ đọc được các tư liệu gốc (bằng tiếng Hán cổ) và còn đọc các ý tưởng được các học giả bên ngoài Việt nam tạo ra liên quan đến nhiều chủ, được viết bằng tiếng Pháp.

lichsu 4

Cả ba Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương và Lương Kim Định đều tham gia học thuật ở miền nam Việt Nam, và công trình của họ cũng thế, được xây dựng trên cơ sở của các nghiên cứu trước bởi các học giả thời thực dân. Tuy nhiên, tất cả họ đều tạo ra các ý tưởng original/ gốc/ nguyên bản… (need help for the translation of this one).

Từ một vài posts gần đây của tôi, rõ ràng là về mặt lí thuyết, Lương Kim Định là người cam kết mạnh mẽ nhất với học thuật phương tây. Ông thiếu thế mạnh của Tạ Chí Đại Trường là đọc từ liệu gốc một cách phê phán và đúng đắn, nhưng ông đã kết nối ở tầm rộng hơn, làm cho học thuật của ông trở nên dễ hiểu hơn đối với độc giả quốc tế.

Các công trình của Nguyễn Phương về sơ sử Việt Nam vào những năm 1960, cơ bản nhất trong đó là việc ông đi đến kết luận rằng về cơ bản không có Việt Nam cho đến tận thế kỷ thứ X. trong khi ông cho rằng sự nổi lên của Việt Nam nhờ vào quá trình dần dần di cư của các nhóm người từ China/ Trung Quốc, trong vài thập kỷ gần đây, các công trình của Tạ Chí Đại Trường liên quan đến sự sang tạo nên các câu chuyện sơ sử Việt Nam khoảng thế kỷ 14 chứng tỏ Việt Nam trẻ như là Nguyễn Phương đã lập luận vào những năm 1960s. Chỉ là sự thiết lập đó không phải dựa trên di cư, như Nguyễn Phương tin tưởng, mà là sự phát triển về văn hóa và xã hội.

lichsu 5

Các kết luận của Tạ Chí Đại Trường về sự thành lập của quốc gia trong lịch sử Việt Nam phản chiếu điều mà các học giả phương tây bắt đầu nói đến ở nhiều xã hội trong những năm 1980s-90s khi mà các chủ đề về bản sắc dân tộc và sự thành lập của các quốc gia bắt đầu trở nên phổ biến. Trong khi đó học thuật của Lương Kim Định liên quan chặt chẽ đến nhiều thế hệ lí thuyết học thuật ở châu Âu từ xã hội học, nhân học, ngôn ngữ học và Trung hoa học.

Học thuật của Đào Duy Anh là sản phẩm sớm hơn, trong một thời đại ít tính chất lí thuyết hơn, nhưng lại có thể dễ dàng đứng cạnh những nền học thuật tốt nhất được tạo ra ở các giai đoạn sau đó từ Hong Kong và Đài Loan, nơi các học giả cũng xử lí các tư liệu gốc theo những cách thức tương tự. và cuối cùng Nguyễn Phương đã phát triển một cách hợp lí các tri thức học thuật để đưa đến kết luận logic (ở thời điểm đó).

lichsu 6

Trong khi bốn học giả này đều khác nhau,điều kết nối họ chính là việc họ đều dựa vào các ý tưởng đã có sẵn đển đưa ra các ý tưởng mới về quá khứ. Quá khứ, trong nền học thuật của các học giả này, là “alive”/ sống/ sống động, vì họ đưa lại cho đọc giả cách nhìn mới về quá khứ, và đưa độc giả vào suy tưởng về những cách thức khác nhau để nghĩ về qua khứ.

Thực tế là trong thế giới ngày nay có nhiều “thế giới” học thuật khác nhau. Mục tiêu của học thuật không giống nhau ở bất cứ đâu. Tuy thế, ở một số nền học thật, mục tiêu là tìm ra những cách mới để nghĩ về một chủ đề nào đó, từ đó mà chúng ta có thể hiểu về nó tốt hơn, để làm được điều đó, kết nới với lí thuyết và nền học thuật trước đó là một nguyên tắc.

Đó là thế giới mà học thuật của Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Phương, Lương Kim Định và Đào Duy Anh hội nhập vào. Trong thế giới đó, họ cũng có thể chắc chắn được gọi là “tứ trụ”.

(My Vietnamese is getting awkward. What a shame)

source: https://leminhkhai.wordpress.com/2015/06/23/global-scholarship-and-the-four-other-pillars-of-history-in-vietnam/

 

 

KÝ ỨC LỊCH SỬ VÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC Ở TRUNG QUỐC: KHÔNG BAO GIỜ QUÊN THẾ KỶ QUỐC GIA BỊ SỈ NHỤC

Để hiểu về cách lịch sử được sử dụng như một công cụ của chủ nghĩa dân tộc dưới sự dẫn dắt của chính trị Trung Quốc hiện tại, cần hiểu khái niệm “勿忘國耻” / Vật vong quốc sỉ: Đừng quên quốc sỉ, được sử dụng để củng cố ý thức dân tộc Trung Quốc sau biến động chính trị những năm 1950s đến 1989. Những biến động này phần nào làm lung lay tính chính thống quyền lực của Trung Nam Hải và họ tìm cách củng cố lại vị trí của mình bằng cách sử dụng political memory (ký ức chính trị). Diễn trình lịch sử này không phải chỉ được sử dụng dưới thời cộng sản Trung Quốc, mà trước đó đã được Tưởng Giới Thạch và các nhà dân tộc chủ nghĩa khác sử dụng như là ngọn cờ tập hợp các phong trào của dân chúng nhằm chống ảnh hưởng từ bên ngoài.

Ký ức về quốc sỉ này xoay quanh chủ đề về “một thế kỷ bị sỉ nhục” của lịch sử Trung Quốc (百年國耻), thế kỷ mà Trung Hoa được mô tả là bị xâm lược, cai trị, ký hàng trăm điều ước bất bình đẳng: Chiến tranh thuốc phiện lần 1 (1840-1842), lần 2 (1856-1860), Chiến tranh Trung Nhật (1894-95), Cuộc tấn công Bắc Kinh của liên quân 8 nước (1900), Nhật Bản xâm lược Mãn Châu 1931, Thảm sát Nam Kinh 1937 và mở rộng xâm lược toàn Trung Quốc (1937-1945). Từ chỗ tin rằng mình ở trung tâm của văn minh, Trung Hoa trở thành kẻ bị thống trị và bị xỉ nhục. Một hình ảnh có tính chất biểu tượng được truyền tụng đó là tấm biển cấm người Trung Hoa và chó trong một công viên ở Thượng Hải.

Có tranh cãi lớn xoay quanh tấm biển, được cho là đặt trước cổng vào công viên Huangpu Park/ Công viên Hoàng Phố (黃浦公園) ở Thượng Hải, nói rằng “No Dogs or Chinese Allowed”: Không cho phép người Trung Quốc và chó. Trong nhiều thập kỷ, người ta nhắc lại câu chuyện này mà không có các dẫn chứng chắc chắn, thậm chí GS hàng đầu về lịch sử Trung Quốc ở đại học Harvard : John K. Fairbank trong nghiên cứu năm 1986 The Great Chinese Revolution (p. 147) cũng đề cập đến chi tiết này nhưng không có ảnh chụp.

Tôi đã tìm kiếm và thấy một tấm biển nói về các quy định công viên đề ngày 13 tháng 9 năm 1917 ở Công Viên Hoàng Phố, trong đó đề cập đến 10 điều:

 HuangpuparkOld2

  1. Công viên dành riêng cho người nước ngoài
  2. Công viên mở cửa hàng ngày cho công chúng từ 6 giờ sáng và đóng cửa sau nửa đêm 30 phút.
  3. Không ai được phép, trừ khi ăn mặc tử tế
  4. Chó và xe đẹp bị cấm
  5. Xe đẩy phải đi đúng đường
  6.  Lấy tổ chim, bẻ hoa, trèo cây hoặc phá cây, bụi và cỏ bị cấm tuyệt đối, người thăm quan và những người chịu trách nhiệm trông trẻ phải ngăn ngừa những điều này.
  7. Vú em không được phép chiếm chỗ ngồi…
  8. Trẻ em không có người nước ngoài đi cùng không được phép vào khu vườn dành riêng
  9. Cảnh sát sẽ chịu trách nhiệm về các quy tắc này.

Không có bất cứ từ “Người Trung Quốc” nào được đề cập đến trong tấm biển này, tuy nhiên, rõ ràng là nó cần được đặt trong ngữ cảnh của các tô giới hay đất nhượng địa mà chính quyền Trung Quốc buộc phải cắt cho nước ngoài và ở đó người nước ngoài “có toàn quyền”.

Từ 1949 đến 1989, “quốc sỉ” hầu như không được đề cập vì Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thích sử dụng . Một phần của nó có lẽ nằm ở thực tế là quân của Mao Trạch Đông không phải là lực lượng chủ đạo đánh Nhật. Chính Tưởng Giới Thạch và quân Đồng Minh là những lực lượng nòng cốt. Thay vào đó, Mao dùng đấu tranh ý thức hệ và thanh trừng đảng phái để thúc đẩy các phong trào chính trị bời vì nền cầm quyền của cộng sản Trung Quốc là hệ quả trực tiếp của cuộc nội chiến chứ không phải giải phóng dân tộc/ chống lại sự sỉ nhục.

Chính Đặng Tiểu Bình và những người kế tục đã đưa “Thế kỷ quốc sỉ” trở lại sách giáo khoa và biến nó thành hạt nhân của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc hiện đại, và gần đây tiếp tục phát triển thành “Giấc mơ Trung Quốc” (中國夢) của Tập Cận Bình. Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội những năm 1980s và sự kiện Thiên An Môn rõ ràng đã làm thay đổi cách thức lịch sử được sử dụng để làm chỗ dựa của Đảng Cộng sản Trung Quốc, từ lí thuyết về xung đột giai cấp sang chủ nghĩa dân tộc. Dùng ký ức bị sỉ nhục để tạo ra sự cố kết mới của Trung Quốc và tìm kiếm tính chính thống mới cho quyền lực của Đảng.

Điều đặc biệt của sự thay đổi diễn ngôn lịch sử này đó là sự chuyển biến từ việc tập trung vào lịch sử “huy hoàng” thời Mao và thay vào đó là lịch sử của kẻ bị trị, xâm lược, và ô nhục. Cách kể lịch sử mới này trút tất cả sự lên án vào phương Tây và tìm cách thu hút giới trẻ vào các cuộc vận động mới nhằm chấn hưng Trung Hoa, thay vì các nỗ lực như thế hệ sinh viên 1980s, là dân chủ hóa. Phim ảnh, báo chí và tuyên truyền trở thành công cụ hữu hiệu cho ký ức về thế kỷ sỉ nhục. Rất nhiều bộ phim võ thuật (thể loại mà tôi yêu thích) của Trung Hoa bắt đầu nói về các cuộc đấu giữa người Hán và các tay võ sĩ thách đấu Nhật Bản hay Phương Tây. Không dừng ở đó, các sự kiện “sỉ nhục” cũng được dựng thành phim. Cảnh dưới đây từ “Chiến tranh Nha Phiến”, diễn viên Bào Quốc An vai Khâm Sai Đại Thần Lâm Tắc Từ, đang chuẩn bị đổ các thùng thuốc thuốc phiện của phương Tây xuống biển.

Untitled

Hay có ít nhất 10 bộ phim về Nam Kinh đã được dựng, “Cướp bóc Nam Kinh”/Rape of Nanking là một trong đó.

 BrainMindcomNankingMassacre

Người ta dựng lên các đài tưởng niệm các sự kiện “sỉ nhục”. bi thảm của lịch sử Trung Quốc như Đài tưởng niệm Chiến tranh nha phiến ở Quảng Châu:

 25-130411143J9

Hay sự kiện Nhật Bản xâm lược Trung Quốc

 01300000290300122726391551851

Thế hệ 1990s ở Trung Quốc là thế hệ nhận được được một cách có hệ thống hệ thống tuyên truyền mới, lấy chủ nghĩa yên nước làm cơ sở thông qua ký ức về một Trung Hoa bị sỉ nhục. Điều này rõ ràng đang ảnh hưởng sâu sắc cả đến chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc, đặc biệt là việc ứng xử với các nước láng giềng.

5 MMtouristsimages

Sẽ rất thú vị nếu có ai đó nghiên cứu về sự chuyển dịch của ký  ức lịch sử trong cùng giai đoạn này ở Việt Nam? Trong ba thập kỷ qua, lịch sử đã được viết lại như thế nào và các động lực chính trị ở đàng sau nó? Sự “quốc gia hóa” tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chẳng hạn./

“DIFFERENT VOICES” IN THE VIETNAMESE SCHOLARSHIP

I like to start with Albert Einstein — ‘What is right is not always popular and what is popular is not always right.’, but I think the more significant task for any society is how to manage with diversity, with the difference of people’s opinion, ideas and interpretation. Spending a few years in Thailand and enjoyed its academic atmosphere for a while is absolutely invaluable experience for me to better understand the mainland Southeast Asia in other angles. In various occasions, I had chances to meet, talk, and discuss with a number of what I call “strange scholarly voices”. Two among those are Chatthip Nartsupha and Nidhi Eossewong, the former is a prof. of economics at Chulalongkorn University and the later, a historian at Chiang Mai University. They are both famous for their controversial works and interpretation of the Thai past.

In his work, The Thai Village Economy in the Past (first published in Thai in 1984, and then translated in English by Chris Baker and Pasuk Phongpaichit in 1999), Ajarn/ Thay Chatthip presents an alternative economic and historical approach to peasant production and village economy in Thailand. They are characterized as a subsistence economy and remained so much longer than is conventionally thought that under which emerging the “community culture” movement and rural revival. He then comes to argue that The Bowring Treaty of 1855 and subsequent “forced-open” to the west and connecting to the world market broke such “subsistence” in various ways by changing Siam’s economy to commercial-for-export.

Thai Village Econ

Nidhi Eoseewong’s Pen and Sail copes with another task of Thai history, the internal change of the nineteenth century Thailand under which nothing involves with the West. His argument through the combination of intellectual and economic history states that the emergence of a market economy in the early Bangkok era (1782-1855) was the driving force behind a major change in mentality and worldview seen in poetry, early prose works, biographies of the Buddha, scripts for chanting the Jataka tales, language primers, manuals of behavior, and revisions of the royal chronicles. The book soon brought him both reputation and “fire” which many describe as “the most innovative, famed, and controversial Thai historian of his generation”.

nIDHI

“Vị Giáo sư này nói: Lịch sử có trách nhiệm GIẢI THÍCH, hơn là chỉ để GHI CHÉP”.

Now, how significant role these academic figures play? And why their perspectives are academically divided and controversial? I guess past of the answer places on the “different voices” they raise which try to provide new models of Thailand history, rather than simply following the “royalist-nationalist history” (prawatisat baep rachachatniyom, terminology by Thongchai). The “revolution”/”reform” in 1868 of course is important in connecting Siam to the world and fostering economic transformation, but it is not the only driving forces of change and many even came much earlier.

Generally speaking, the situation in Thailand is identical with what happened in Vietnam in the last few decades. There has been a dominated historical narrative which is very much politically motivated which comparable to Thai royalist-national historiography. But the “different voices” in Vietnam are much less considerable. While the like Chatthip and Nidhi are recognized and publically influential not only in the academic domain but a public figure (and having international recognition as well), I have seen much in Vietnam such a space.

I joined a conference last year on the Paris Agreement on Vietnam. A friend, Pierre Asselin at Hawaii Pacific University was disappointed and a bit angry (I guess) when his (and other western scholarship) are being denied without any compromising or convincing academic response from the local academia. I also realize that there is a lack of academic figures in Vietnam such as Chatthip or Nidhi in Thailand. Is it possible for us to recognize the difference and open to new approach?

At the end of the day, history is not virtually fact of the past. “The facts are there, to be sure, but they are infinite in number and speak, if at all, in conflicting, often unintelligible, voices. It is the task for the historian to reach back into this incoherent babel of facts, choose the one that are important, and figure out what it is they say”. (Paul Cohen) In other words, there is more than a single version can be applicable for the past. So I think of those like Bui Thiet’s Doi Thoai Su Hoc, Ha Van Thuy, Le Manh That…  Are they qualified enough to be considered as “different voices”? I do not think so, but on the other hand, the way “mainstream of academia” responds to the “different” is problematic as well. Vietnamese scholarship lacks both the dissimilarity and a space for its recognition.

At the end, I leave you with Prof. Tran Quoc Vuong’s voice. He is one among very few during the last decades made the difference and got respected appreciation for that.

600067_385225434918404_1844007012_n601212_385253764915571_370403643_n

And then, cheer for the coming difference and diversity.

Create a free website or blog at WordPress.com.

Up ↑