Search

thinkvietnam

Albert Einstein — 'What is right is not always popular and what is popular is not always right.'

NHỮNG ĐỒNG HOA CẢI

Tôi qua những đồng cải

Vàng như sắc nắng tuổi thơ

Chân trời một màu tím ngát

Buông khuâng đợi một cánh diều

***

Tôi đã qua những đồng cải

Vẫy gọi chiều xuân

Mùa xa xứ lạ

Tìm người con gái

Bên đời du ca

***

Tôi sẽ qua những đồng cải

Lạc lối mênh mang

Chiều sâu vời vợi

Gọi lời em hát

Trong chiều tháng năm.

(Kẻ lữ hành từ Zwickau đến Halle, 11.05.2014)

Image

KÝ ỨC LỊCH SỬ VÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC Ở TRUNG QUỐC: KHÔNG BAO GIỜ QUÊN THẾ KỶ QUỐC GIA BỊ SỈ NHỤC

Để hiểu về cách lịch sử được sử dụng như một công cụ của chủ nghĩa dân tộc dưới sự dẫn dắt của chính trị Trung Quốc hiện tại, cần hiểu khái niệm “勿忘國耻” / Vật vong quốc sỉ: Đừng quên quốc sỉ, được sử dụng để củng cố ý thức dân tộc Trung Quốc sau biến động chính trị những năm 1950s đến 1989. Những biến động này phần nào làm lung lay tính chính thống quyền lực của Trung Nam Hải và họ tìm cách củng cố lại vị trí của mình bằng cách sử dụng political memory (ký ức chính trị). Diễn trình lịch sử này không phải chỉ được sử dụng dưới thời cộng sản Trung Quốc, mà trước đó đã được Tưởng Giới Thạch và các nhà dân tộc chủ nghĩa khác sử dụng như là ngọn cờ tập hợp các phong trào của dân chúng nhằm chống ảnh hưởng từ bên ngoài.

Ký ức về quốc sỉ này xoay quanh chủ đề về “một thế kỷ bị sỉ nhục” của lịch sử Trung Quốc (百年國耻), thế kỷ mà Trung Hoa được mô tả là bị xâm lược, cai trị, ký hàng trăm điều ước bất bình đẳng: Chiến tranh thuốc phiện lần 1 (1840-1842), lần 2 (1856-1860), Chiến tranh Trung Nhật (1894-95), Cuộc tấn công Bắc Kinh của liên quân 8 nước (1900), Nhật Bản xâm lược Mãn Châu 1931, Thảm sát Nam Kinh 1937 và mở rộng xâm lược toàn Trung Quốc (1937-1945). Từ chỗ tin rằng mình ở trung tâm của văn minh, Trung Hoa trở thành kẻ bị thống trị và bị xỉ nhục. Một hình ảnh có tính chất biểu tượng được truyền tụng đó là tấm biển cấm người Trung Hoa và chó trong một công viên ở Thượng Hải.

Có tranh cãi lớn xoay quanh tấm biển, được cho là đặt trước cổng vào công viên Huangpu Park/ Công viên Hoàng Phố (黃浦公園) ở Thượng Hải, nói rằng “No Dogs or Chinese Allowed”: Không cho phép người Trung Quốc và chó. Trong nhiều thập kỷ, người ta nhắc lại câu chuyện này mà không có các dẫn chứng chắc chắn, thậm chí GS hàng đầu về lịch sử Trung Quốc ở đại học Harvard : John K. Fairbank trong nghiên cứu năm 1986 The Great Chinese Revolution (p. 147) cũng đề cập đến chi tiết này nhưng không có ảnh chụp.

Tôi đã tìm kiếm và thấy một tấm biển nói về các quy định công viên đề ngày 13 tháng 9 năm 1917 ở Công Viên Hoàng Phố, trong đó đề cập đến 10 điều:

 HuangpuparkOld2

  1. Công viên dành riêng cho người nước ngoài
  2. Công viên mở cửa hàng ngày cho công chúng từ 6 giờ sáng và đóng cửa sau nửa đêm 30 phút.
  3. Không ai được phép, trừ khi ăn mặc tử tế
  4. Chó và xe đẹp bị cấm
  5. Xe đẩy phải đi đúng đường
  6.  Lấy tổ chim, bẻ hoa, trèo cây hoặc phá cây, bụi và cỏ bị cấm tuyệt đối, người thăm quan và những người chịu trách nhiệm trông trẻ phải ngăn ngừa những điều này.
  7. Vú em không được phép chiếm chỗ ngồi…
  8. Trẻ em không có người nước ngoài đi cùng không được phép vào khu vườn dành riêng
  9. Cảnh sát sẽ chịu trách nhiệm về các quy tắc này.

Không có bất cứ từ “Người Trung Quốc” nào được đề cập đến trong tấm biển này, tuy nhiên, rõ ràng là nó cần được đặt trong ngữ cảnh của các tô giới hay đất nhượng địa mà chính quyền Trung Quốc buộc phải cắt cho nước ngoài và ở đó người nước ngoài “có toàn quyền”.

Từ 1949 đến 1989, “quốc sỉ” hầu như không được đề cập vì Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thích sử dụng . Một phần của nó có lẽ nằm ở thực tế là quân của Mao Trạch Đông không phải là lực lượng chủ đạo đánh Nhật. Chính Tưởng Giới Thạch và quân Đồng Minh là những lực lượng nòng cốt. Thay vào đó, Mao dùng đấu tranh ý thức hệ và thanh trừng đảng phái để thúc đẩy các phong trào chính trị bời vì nền cầm quyền của cộng sản Trung Quốc là hệ quả trực tiếp của cuộc nội chiến chứ không phải giải phóng dân tộc/ chống lại sự sỉ nhục.

Chính Đặng Tiểu Bình và những người kế tục đã đưa “Thế kỷ quốc sỉ” trở lại sách giáo khoa và biến nó thành hạt nhân của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc hiện đại, và gần đây tiếp tục phát triển thành “Giấc mơ Trung Quốc” (中國夢) của Tập Cận Bình. Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội những năm 1980s và sự kiện Thiên An Môn rõ ràng đã làm thay đổi cách thức lịch sử được sử dụng để làm chỗ dựa của Đảng Cộng sản Trung Quốc, từ lí thuyết về xung đột giai cấp sang chủ nghĩa dân tộc. Dùng ký ức bị sỉ nhục để tạo ra sự cố kết mới của Trung Quốc và tìm kiếm tính chính thống mới cho quyền lực của Đảng.

Điều đặc biệt của sự thay đổi diễn ngôn lịch sử này đó là sự chuyển biến từ việc tập trung vào lịch sử “huy hoàng” thời Mao và thay vào đó là lịch sử của kẻ bị trị, xâm lược, và ô nhục. Cách kể lịch sử mới này trút tất cả sự lên án vào phương Tây và tìm cách thu hút giới trẻ vào các cuộc vận động mới nhằm chấn hưng Trung Hoa, thay vì các nỗ lực như thế hệ sinh viên 1980s, là dân chủ hóa. Phim ảnh, báo chí và tuyên truyền trở thành công cụ hữu hiệu cho ký ức về thế kỷ sỉ nhục. Rất nhiều bộ phim võ thuật (thể loại mà tôi yêu thích) của Trung Hoa bắt đầu nói về các cuộc đấu giữa người Hán và các tay võ sĩ thách đấu Nhật Bản hay Phương Tây. Không dừng ở đó, các sự kiện “sỉ nhục” cũng được dựng thành phim. Cảnh dưới đây từ “Chiến tranh Nha Phiến”, diễn viên Bào Quốc An vai Khâm Sai Đại Thần Lâm Tắc Từ, đang chuẩn bị đổ các thùng thuốc thuốc phiện của phương Tây xuống biển.

Untitled

Hay có ít nhất 10 bộ phim về Nam Kinh đã được dựng, “Cướp bóc Nam Kinh”/Rape of Nanking là một trong đó.

 BrainMindcomNankingMassacre

Người ta dựng lên các đài tưởng niệm các sự kiện “sỉ nhục”. bi thảm của lịch sử Trung Quốc như Đài tưởng niệm Chiến tranh nha phiến ở Quảng Châu:

 25-130411143J9

Hay sự kiện Nhật Bản xâm lược Trung Quốc

 01300000290300122726391551851

Thế hệ 1990s ở Trung Quốc là thế hệ nhận được được một cách có hệ thống hệ thống tuyên truyền mới, lấy chủ nghĩa yên nước làm cơ sở thông qua ký ức về một Trung Hoa bị sỉ nhục. Điều này rõ ràng đang ảnh hưởng sâu sắc cả đến chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc, đặc biệt là việc ứng xử với các nước láng giềng.

5 MMtouristsimages

Sẽ rất thú vị nếu có ai đó nghiên cứu về sự chuyển dịch của ký  ức lịch sử trong cùng giai đoạn này ở Việt Nam? Trong ba thập kỷ qua, lịch sử đã được viết lại như thế nào và các động lực chính trị ở đàng sau nó? Sự “quốc gia hóa” tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương chẳng hạn./

THE SOUTHERN VIETNAM’S TERRITORIAL CLAIM: A view of historian Nguyen Dinh Dau

‘THE LAND OF VIETNAM’I recently came across this piece on BBC Vietnamese related to how Vietnamese scholarship views on history of the Mekong delta.
Nguyen dinh dau
Since some Cambodian politicians are drawing more attention to their provocative comments on Vietnamese-Cambodian border and territory, I think this article can be useful for some to get the idea on what kind argument is being made by Vietnamese historical scholarship. So I make a quick translation into English.To a large extent, it reflects popular argument of Vietnamese historians in dealing with the topic. Others usually take the story back to the Funan period (1st -7th. AD) and argue that Funan and Chenla are two distinct kingdoms, established by different group of peoples, and Chenla invaded Funan in the Lower Mekong, not the other way around (based on Chinese sources).

Source: ttp://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/08/130829_nguyendinhdau_khmer_claims.shtml

“THE LAND OF VIETNAM”

In a recent interview with BBC, Mr. Sam Rainsy, leader of the opposition party in Cambodia, accused Vietnam of annexing some parts of Khmer land. BBC contacted with Mr. Nguyen Dinh Dau, a veteran historian on cadastre and history of exploitation of the Southern Vietnam regarding to this topic.

BBC: Mr. Nguyen Dinh Dau, in a recent interview with BBC, Mr. Sam Rainsy, leader of the Cambodian opposition party condemned Vietnam to “occupy the Khmer land”. What do you think about that?

Mr. Nguyen Dinh Dau: There was part of Cambodia that was swamp and very scatterly inhabited. The Cambodian (Nguoi Khmer) stayed in the upland, the Angkor Wat. Mien Nam (The Southern Vietnam) in the past belonged to another kingdom which known as Funan. Prior to the 16th and the 17th centuries, the Vietnamese spontaneously came to settle and make their living.

Mr. Mac Cuu was an anti-Qing figure (as the Han did not accept the Manchurian domination, thus fled to Vietnam), went to the region of Cambodia around 1688 and was recognized by the Cambodia as an explorer and a pioneer who reclaimed the land. Mac Cuu collected seven villages where had Vietnamese people lived with a few Chinese and Khmer namely Phu Quoc, Lung Ky, Can Bot, Vung Thom, Rach Gia and Ca Mau (with the administrative center in Hatien). All these regions stretching from Ca Mau, to part of Bac Lieu to Kam Pong Thom were belonged to Hatien (under the rule) of Mac Cuu.

Since 1708, Mac Cuu asked the Nguyen Lord to be part of Dai Viet, or Dang Trong (the Inner Region). Thus, three hundred years ago, all of those regions, even including Kam Pong Thom (Present-day part of Cambodian territory) have belonged to Vietnam.

Coming across international and Vietnamese maps and documents, drawn by Vietnamese or foreigners, (they) all recognized that the region belongs to Vietnam.

Particularly some places such as Phu Quoc Island, there was no settlement at the beginning neither Viet nor Khmer. I am the one, who researches on cadastre, concerning to land and people of these regions in the last two hundred years, (I) did make cadastral survey in Phu Quoc and what has been found is that all ten villages there, are (populated) by the Viet. Particularly speaking, Phu Quoc has been part of Hatien for 300 years, (people) still living and working normally, and there is no dispute with the Khmer.

I think if one now claims territory (the region), it will make no different as the Vietnamese claim Guangdong and Guangxi, those things had occurred for long time and today, things have been changed. For instance, after the World War I, the European map was re-drawn. And after the World War II, part of it was also changed. Those are events taking place recently.

Concerning to those regions which claimed by Cambodia, (they) have belonged to Vietnam during the last three hundred years without any conflict, even going through the French period.

BBC: As you said, when Mac Cuu went to Hatien to exploit the land, there was already the Khmer there. Is that proper if the Khmer uses this evidence to justify their claim to the land?

Mr. Nguyen Dinh Dau: Talking about population, there were Khmer (there), however history states clearly that the Vietnamese were majority in the seven villages, and what documented more is that there were also Chinese and others, maybe Malay. Of course there were Cambodians, but one cannot argue that because of those Cambodians, the land which had belonged to Vietnam during the last three hundred years now can be claimed to be part of Cambodia; according to the international law, I find it improper and unjustified.

BBC: What is the reason responsible for this unjustification? Because the Vietnamese are majority and the Vietnamese did reclaim the region, so according to the international law, (the region) belongs to Vietnam?

Mr. Nguyen Dinh Dau: It is true that Vietnamese did reclaim the land. If one opens ancient maps, there was a place called Hon Dat (not the present-day Hon Dat in Kien Giang province) where in the past, a Catholic priest established a monastery and a school for local students. This “Hon Dat” locates much further up from Hatien, in the area between Hatien and Kam Pong Thom. If one comes across research of the contemporary exploration, adventure, and maps, it is clear that many places in present-day Cambodian territory were marked with Vietnamese places (The places named in Vietnamese-VDL). If the place is named in Vietnamese, obviously the Vietnamese are majority.

BBC: In the Mekong Delta, however there are places are named by the Khmer and in Khmer such as Xa No canal?

Mr. Nguyen Dinh Dau: Yes, there are. Place such as Sai Gon is derived from Khmer. We know that in the past Vietnamese used Vietnamese language and rarely used Han-Viet. However the writing system is Sino-script because we have not yet had script. Other examples are places in central Vietnam named in Champa and still being remained until today, such as Nha Trang.

BBC: So the Khmer can rely on the fact that there are places named in Khmer language to claim their land. (Do you find) their argument correct?

Mr, Nguyen Dinh Dau: Making the same argument, muss the Champa people restore their kingdom? Their kingdom was so strong sine the second century AD. The Vietnamese state emerged since the 10th century. They were much stronger than Vietnam at that time. But taking this excuse, there will be no more normal life for human being because mankind continuously changes and shifts, once raises, once falls, one is strong and others are weak, or whatever changes, we today have to accept the fact of historical change.

BBC: You said that the Vietnamese make contributions by reclaiming the Mekong Delta, so before the Vietnamese came, the Khmer living there did not reclaim much the land, did they?

Mr. Nguyen Dinh Dau: According to my research on land usage and cadastre, there were at that time not only the Khmer but many other ethnic minorities…. Most of them lived only on the hills called “giong” and were unfamiliar with water-rice cultivation unlike the Vietnamese. The Vietnamese on the other hand practiced water rice cultivation since the time they lived in the north, in the Red river delta. As a result, during the last three hundred years, there has been a natural distribution that the Vietnamese stay in the delta and the the Khmer and other ethnic minorities stay on the “giong”. And then they (the Khmer and Ethnic minorities) gradually moved up to the Central Region (Mien Trung) or further upland.

BBC: How about the story of French? When the French came to the Indochina, they drew maps of three countries in Indochina; did they spontaneously annex the Mekong Delta into the Vietnamese territory without any Khmer’s acceptance?

Mr. Nguyen Dinh Dau: If we look at historical maps such as Dai Nam Nhat Thong Toan Do (The Full Map of Unified Dai Nam) or Taberb’s 1838-map (the map drawn by Taberb, a French Priest), both were created in 1838; we can see the Vietnam, excuse me, it (Vietnamese territory) was almost as big as the French Indochina because kingdom like Laos was not reunified and Cambodia was so weak and was going to be swallowed by the Siam (Thailand). If the Vietnam did not get involved, Cambodia would be under the Siamese domination. The advance of Vietnamese further into Cambodia also was a result of request made by Cambodian kings and lords (vua chua) and government in order to protect and maintain their government against the Siamese. Of course, people speak from different perspectives, but in fact we cannot use contemporary ideology/thought to recall what really happened at that time, the situation had occurred three hundred years ago.

BBC: How about the Khmer maps? Whether the Khmer kingdom included present-day Southern Vietnam into their maps?

Mr. Nguyen Dinh Dau: The Khmer are good at architecture, but map-making is not clear. I professionally research on (historical) places and it turns out that governmental places (administrative centers) mostly locate in Land Chenla, meanwhile few are found in Water Chenla.

(This) Shows that there was no Cambodian governance and direct rule. Since Khmer King Chey Chettha II allowed / let the Nguyen Lord to establish (tows of) Sai Gon-Ben Nghe, those two places have been part of Vietnam for 400 years. It is not the case that those Tax-collecting centers locating at the region of the Cambodian people. At that time, there were Vietnamese to come and set up their lives, therefore those tax-collecting posts were to tax Vietnamese and help them to establish their lives.

What I have already said not come from the Vietnamese dynastic history, but was recorded in the Khmer Chronicle.

Notes:

– About historian Nguyen Dinh Dau: born in 1920, a veteran historian working on Southern Vietnam history. His best known for multi-volume work on cadastral survey in Southern Vietnam in the nineteenth century.

– Water Chenla and Land Chenla: Chinese XinTangShu reports that Chenla (the Khmer kingdom) successfully conquered Funan in the 7th century. In the 8th century, Chenla was divided into two parts: Water Chenla and Land Chenla (Thuy Chan Lap and Luc Chan Lap, in Vietnamese). The specific geographical location of each principality maintained unclear however it is properly that Water Chenla locates in the Lower Mekong (where once stood Funan) and Land Chenla’s domain goes upstream, up to present-day southern Laos (Wat Phu and Champassak).

archaeological site in Southern Vietnam_Dougald J W OreillyMap showing archaeological sites in Cambodia and Southern Vietnam
(Dougald J. W. O’Reilly)

“DIFFERENT VOICES” IN THE VIETNAMESE SCHOLARSHIP

I like to start with Albert Einstein — ‘What is right is not always popular and what is popular is not always right.’, but I think the more significant task for any society is how to manage with diversity, with the difference of people’s opinion, ideas and interpretation. Spending a few years in Thailand and enjoyed its academic atmosphere for a while is absolutely invaluable experience for me to better understand the mainland Southeast Asia in other angles. In various occasions, I had chances to meet, talk, and discuss with a number of what I call “strange scholarly voices”. Two among those are Chatthip Nartsupha and Nidhi Eossewong, the former is a prof. of economics at Chulalongkorn University and the later, a historian at Chiang Mai University. They are both famous for their controversial works and interpretation of the Thai past.

In his work, The Thai Village Economy in the Past (first published in Thai in 1984, and then translated in English by Chris Baker and Pasuk Phongpaichit in 1999), Ajarn/ Thay Chatthip presents an alternative economic and historical approach to peasant production and village economy in Thailand. They are characterized as a subsistence economy and remained so much longer than is conventionally thought that under which emerging the “community culture” movement and rural revival. He then comes to argue that The Bowring Treaty of 1855 and subsequent “forced-open” to the west and connecting to the world market broke such “subsistence” in various ways by changing Siam’s economy to commercial-for-export.

Thai Village Econ

Nidhi Eoseewong’s Pen and Sail copes with another task of Thai history, the internal change of the nineteenth century Thailand under which nothing involves with the West. His argument through the combination of intellectual and economic history states that the emergence of a market economy in the early Bangkok era (1782-1855) was the driving force behind a major change in mentality and worldview seen in poetry, early prose works, biographies of the Buddha, scripts for chanting the Jataka tales, language primers, manuals of behavior, and revisions of the royal chronicles. The book soon brought him both reputation and “fire” which many describe as “the most innovative, famed, and controversial Thai historian of his generation”.

nIDHI

“Vị Giáo sư này nói: Lịch sử có trách nhiệm GIẢI THÍCH, hơn là chỉ để GHI CHÉP”.

Now, how significant role these academic figures play? And why their perspectives are academically divided and controversial? I guess past of the answer places on the “different voices” they raise which try to provide new models of Thailand history, rather than simply following the “royalist-nationalist history” (prawatisat baep rachachatniyom, terminology by Thongchai). The “revolution”/”reform” in 1868 of course is important in connecting Siam to the world and fostering economic transformation, but it is not the only driving forces of change and many even came much earlier.

Generally speaking, the situation in Thailand is identical with what happened in Vietnam in the last few decades. There has been a dominated historical narrative which is very much politically motivated which comparable to Thai royalist-national historiography. But the “different voices” in Vietnam are much less considerable. While the like Chatthip and Nidhi are recognized and publically influential not only in the academic domain but a public figure (and having international recognition as well), I have seen much in Vietnam such a space.

I joined a conference last year on the Paris Agreement on Vietnam. A friend, Pierre Asselin at Hawaii Pacific University was disappointed and a bit angry (I guess) when his (and other western scholarship) are being denied without any compromising or convincing academic response from the local academia. I also realize that there is a lack of academic figures in Vietnam such as Chatthip or Nidhi in Thailand. Is it possible for us to recognize the difference and open to new approach?

At the end of the day, history is not virtually fact of the past. “The facts are there, to be sure, but they are infinite in number and speak, if at all, in conflicting, often unintelligible, voices. It is the task for the historian to reach back into this incoherent babel of facts, choose the one that are important, and figure out what it is they say”. (Paul Cohen) In other words, there is more than a single version can be applicable for the past. So I think of those like Bui Thiet’s Doi Thoai Su Hoc, Ha Van Thuy, Le Manh That…  Are they qualified enough to be considered as “different voices”? I do not think so, but on the other hand, the way “mainstream of academia” responds to the “different” is problematic as well. Vietnamese scholarship lacks both the dissimilarity and a space for its recognition.

At the end, I leave you with Prof. Tran Quoc Vuong’s voice. He is one among very few during the last decades made the difference and got respected appreciation for that.

600067_385225434918404_1844007012_n601212_385253764915571_370403643_n

And then, cheer for the coming difference and diversity.

VIETNAM NHÌN TỪ BÊN NGOÀI: James C. Scott’s The Art of Not Being Governed

Tác giả là giáo sư James C. Scott, Khoa khoa học chính trị, Đại học Yale. Ông là tác giả của hàng loạt các công trình nghiên cứu về kinh tế nông dân, ruộng đất và hình thái phản kháng của nông dân. Ông nổi tiếng với khái niệm, “Moral Economy” để chỉ cấu trúc kinh tế-xã hội của người nông dân ở Đông Nam Á. Khái niệm này rất có ảnh hưởng ở Phương Tây. Một phần trong nghiên cứu này được ông tiến hành đối với cuộc nổi dậy của nông dân Nghệ An-Hà Tĩnh 1930-1931. Tiếc là ở VN, tên của ông chưa được nhắc đến. Các công trình nghiên cứu của ông như: “Seeing Like a State: How Certain Schemes to Improve the Human Condition Have Failed”, Yale University Press, 1997; “Geographies of Trust: Geographies of Hierarchy,” in Democracy and Trust, 1998; “State Simplifications and Practical Knowledge,” in People’s Economy, People’s Ecology, 1998… đều được xem là truyền cảm hứng cho giới nghiên cứu Đông Nam Á về kinh tế chính trị, lịch sử, xã hội học…

Cuốn sách mới nhất của ông, “Nghệ thuật để không bị cai trị: Một lịch sử không có nhà nước của vùng cao ở Đông Nam Á” giới thiệu một cách tiếp cận mới đối với lịch sử của các dân tộc thiểu số trong khung cảnh 2000 năm qua. Xin ghi nhận một số điểm từ cuốn sách mong có thể giúp ích đối với các bạn:

9780300152289

– “Lịch sử của các dân tộc có lịch sử là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Lịch sử của các cộng đồng không có lịch sử của họ chống lại nhà nước”. Scott hướng sự chú ý đến khu vực núi cao trên 300 m ở Đông Nam Á trải dài từ Vân Nam đến Tây Nguyên Việt Nam, Laos, Cambodia, Bắc Thailand và Myanmar, nơi cư trú của khoảng 100 triệu người gồm rất nhiều các dân thiểu số với ngôn ngữ và văn hóa khác nhau. Gần đây dân tộc học gọi khu vực này là Zomia.

Map of Zomia

Zomi_201109_2

– Scott lập luận: “Zomia là khu vực cuối cùng của thế giới mà các cộng đồng chưa hoàn toàn bị sáp nhập vào khuôn khổ các nhà nước”, mặc dù khu vực này được bao quanh bởi 9 nhà nước lớn đã được hình thành trong lịch sử của người Hán, Việt, Thai, Burmese (Miến), Khmer…

Thực tế, các cư dân miền núi ở Đông Nam Á được mô tả như là các cộng đồng trốn chạy trong vòng 2000 năm qua nhằm thoát khỏi các nhà nước được hình thành ở dưới vùng thung lũng: thuế khóa, lao dịch, cướp bóc, nô lệ, bệnh tật… Vì thế, tất cả những thiết chế liên quan đến cách cộng đồng miền núi như: tổ chức xã hội, lối sống, canh tác, tư duy, thậm chí việc không có chữ viết…. cần được hiểu như là lựa chọn chiến lược của họ nhằm ngăn chặn việc nhà nước được hình thành.

– Các thiết chế khác như hình thức mùa vụ, cách thức sản xuất, việc du canh du cư, quan hệ họ hàng, lưu giữ bản sắc dân tộc,…  được “thiết kế” để họ có thể chạy trốn khỏi các nhà nước dưới thung lũng, và ngăn cản nhà nước ra đời. Để làm rõ điều này, Scott đưa ra hai mô hình đối lập của xã hội nông nghiệp thung lũng và các nhóm miền núi:

+. Nhà nước ở thung lũng: khuôn khổ nhà nước, xã hội có thứ bậc, làm nông nghiệp lúa nước, sử dụng hệ thống thủy lợi, dân cư tập trung trên một khu vực diện tích nhỏ (bán kính khoảng 200 km), hệ thống nhà nước, thiết chế chính trị, hành chính, thuế khóa, điều tra đất đai, nhân khẩu, thuần nhất về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, các cuộc chiến tranh quy mô lớn,… Tất cả những nhân tố này được mô tả là “CIVILIZATION/ VĂN MINH”

+. Các cộng đồng miền núi: không có một thiết chế chính trị ổn định, dân cư phân tán, đa dạng văn hóa, ngôn ngữ, tộc người, không có hệ thống kinh tế hoàn chỉnh như chế độ thuế khóa, cư dân có thể tự do di chuyển, di chuyển về phía các thung lũng nếu thấy an toàn và cần, cũng có thể di chuyển lên các vùng núi cao hơn để tránh đe dọa của nhà nước ở thung lũng. Các nhóm cư dân miền núi trồng nhiều loại hoa màu khác nhau, vào các thời điểm khác nhau (hơn 40 loại) nhằm tránh bị nhà nước tịch thu. Sắn là một ví dụ, có thể trồng ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào, có thể vùi trong đất trong vòng 2 năm vẫn có thể ăn được. Tất cả những nhân tố này được đồng bằng mô tả như là “BARBARIAN/ MAN DI”

– Trong 2000 năm qua, cách nhóm cư dân ở Zomia đã trốn chạy khỏi người Hán, Tây Tạng, Myanmar, Thái. Chandragupta (Ấn Độ)… Các cộng đồng miền núi có thể di chuyển xuống gần đồng bằng, tiếp nhận các thiết chế nhà nước để trở nên VĂN MINH, tuy nhiên, hiện tượng này chỉ diễn ra với mức độ lớn từ thế kỷ XIX. Từ đầu thế kỷ XX, các nhà nước tăng cường di dân, mở rộng kiểm soát, đồng hóa, … vì thế, việc các cộng đồng này tiếp tục trốn chạy khỏi văn minh là không thể, vì tất cả các khu vực thuộc Zomia đã được xác lập bởi các đường ranh giới quốc gia được kiểm soát trực tiếp bởi các nhà nước ở trung tâm

– Ý tưởng của cuốn sách rất thú vị: không phải VĂN MINH không thể leo núi để đến với các nhóm vùng cao mà chính các nhóm vùng cao đã leo lên núi để CHẠY TRỐN khỏi VĂN MINH, đúng hơn là chạy trốn khỏi các thiết chế của NHÀ NƯỚC.

– Đánh giá: Cuốn sách có tầm ảnh hưởng to lớn trong giới nghiên cứu. Bản thân Scott cho rằng lập luận ông đưa ra là táo bạo. Chỉ trích cho rằng Scott đã mô tả “nhà nước” là “xấu xa, có hại, và  chuyên quyền”. Michaud, một chuyên gia về người Hmong cho rằng người Hmong có thể phù hợp với lập luận của Scott, nhưng người Shan ở Myanamar, Tày Nùng ở Việt Nam, Choang ở Vân Nam đã có các nhà nước và thiết chế của riêng mình. Prasenjit Duara (NUS, Singapore) cho rằng Scott đã thổi phồng việc các nhóm miền núi “chủ động trốn tránh” nhà nước… rất nhiều các tranh luận khác…

Các bạn sinh viên nếu được tiếp cận với công trình này, chắc chắn sẽ có được các đề tài nghiên cứu khoa học thú vị dựa trên những cách thức tư duy mới. Tham khảo chương 1 và 2 của cuốn sách tại đây: http://www.law.yale.edu/documents/pdf/Intellectual_Life/LTW-Scott.pdf

Ngẫu hứng

Dành tặng cho cô gái Chợ Rồng
***
Em, ánh ban mai rọi lối chiều tà
Mà ngỡ như từ trong miền ký ức
Quen nhau giữa dòng định mệnh
Mà cuộc đời li loạn ai hay.
Ta, kẻ lãng du
Mượn gió trăng thể tình lữ khách
Nào ngờ đôi mắt em cháy bỏng
Vẫn gọi về trên những hoàng hôn.
Giữa màn sương đêm buốt giá
Bình minh về theo bước chân em.
Và lòng chiều tà thành ấm áp.
Thế là “đủ”, em nhỉ? Cho một đời ước hẹn
Cho cuộc hành trình khi nắng mai lên.

Ta vẫn chờ em, hôm nay…
… giữa hoàng hôn chợ Rồng:
“Tài hoa cũng chuyện đùa chơi
Làm sao thưa hết một lời yêu thương
Anh đi tìm khắp thiên đuờng
Chỉ còn một đoá vô thường gởi em”
***
Lời dẫn:
Mùa xuân năm Mậu Tí, ta có về thực tập ở Ninh Bình. Nhân lúc nhàn tản ngoài giờ dạy học có ngao du khắp các nơi danh thắng, giao du với các bậc tài danh thỏa chí tang bồng hồ thỉ một đời. Một hôm rảnh rỗi quá bộ qua thành Nam chơi, tình cờ bắt gặp em nơi dòng đời tấp nập. Nàng là bụi đời chợ Rồng, không rõ họ tên là gì, chỉ biết tung hoàng khắp chốn trên con guây chiến. Ta chỉ là một lữ khách tha hương dong chơi trên miền lưu lãng, lấy gió trăng là bầu bạn, lấy làn khói chiều trên sông vắng là quê hương. Có lúc tương phùng, nàng cười tinh nghịch và đầy nguy hiểm: “A cứ yên tâm là e sẽ không “để ý” gì đến anh khi e chưa Tự làm được những gì e muốn đâu.” Ánh mắt của nàng thật ám ảnh và diệu vợi vô thường.
Sau đó, ta trở ra Hà Nội. Trước khi đi, nàng bảo, “E thuộc về ánh ban mai ^o^. A thuộc về buổi chiều tà ^o^. Gặp sao được :))”.
Tới năm Kỷ Sửu, mùa xuân, ta có quay lại tìm nàng. Mới thế đó mà đã vận đổi sao rời, thế thái nhân tình biến cải, biển xanh biến thành nương dâu, nương dâu thì thành khu công nghiệp. Ninh Bình giờ nhiều cảnh sát giao thông và điểm bắn tốc độ quá. Tới thành Nam thì được biết nàng không còn tung hoành ở chợ Rồng nữa. Có người bạn cũ bảo hình như vì năm đó số lượng thí sinh bị cắt giảm nên nàng phải trở về, giúp cha chăm nom vườn tược, ao cá. Nàng thích sống gần cha mẹ. Có kẻ lại nói nàng đã đi thi đại học vượt qua điểm sàn và đang trên Hà Nội. Ta lòng thương cảm bất tận, bước tới chợ Rồng trong ánh hoàng hôn. Gió đông thổi mãi, hoa đào phấp phới, ta hát trong màu hoa:
“Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong”.
——————–
Bài thơ là pha trộn các cung bậc xúc cảm của “Long Thành Cầm Giả Ca”, “Bụi đời chợ Lớn”, và những trải nghiệm riêng của tác giả trong cuộc hành trình kiếm tìm người con gái tri kỷ (khi nào tìm thấy, tác giả xin kính báo). Xin đồng đạo giang hồ chớ ném đá. Bác nào hảo tâm, để dành đá em xin, hôm sau xây nhà vườn tặng cô gái chợ Rồng. Tại hạ cảm kích bất tận.
Xin tạ lỗi cụ Nguyễn Du, cụ có hân hạnh gặp hồng nhan nơi đàn hát, cháu chót dại gặp tri kỷ nơi “chợ búa”.
Tài liệu tham khảo:
Nguyễn Du (Long Thành cầm giả ca), Hữu Loan (Màu tím hoa sim), Quang Dũng (Đôi mắt người Sơn Tây), Bụi đời chợ Lớn (film), Thôi Hộ (Đề Đô thành nam trang), Thôi Hiệu (Hoàng Hạc Lâu), Cao Bá Quát (Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái hoa mai), Hoàng Phủ Ngọc Tường (Bồng bềnh cho tới mai sau, Gửi cho người)…

977037_527455920641506_1511550168_o

(Hanoi, May 1, 2013)

Finally I found myself in the Hamburg Museum. Truth be told, I did not expect much but again German Museums surprise me as they always do. There is a place called Museum Island (Museumsinsel) in Berlin where you can truly enjoy among the finest museums in the world (anyway, for those who would like to go on museum studies, Germany is definitely my recommendation.)

Image

Part of my suspicion, before setting foot in the Hamburg Museum, comes from experience of local museums in Vietnam where they try hard to portray themselves through the lens of national memory. So each provincial museum appears as a fragment of the national one, rather than to recall a historical connection in some sort within a certain geopolitical surface. If you keep in mind that modern Vietnamese geobody was giving birth in early 19th century and consciousness of a modern nation just came in the last century, there was a long period of time in which regional difference and dynamism, if not competition dominated the landscape of present-day Vietnam.

Few months ago, I was at the Nam Dinh Museum and it was fascinating indeed in comparison with other provincial museums, and I did enjoy the trip. As a space of public memory devotes to “Nam Dinh”, the museum seems to do an excellent job in telling story about How Nam Dinh takes part in the national history and integrates with the centre/empire/capital in times. The main section of the building dedicates to an extraordinary large sculpture depicting Ho Chi Minh in his 1963-visit, and the slogan read, “Tiếp tục truyền thống cách mạng vẻ vang, xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi” [Continuing the glorious revolutionary tradition, successfully building socialism]. And if you continue going on, periodization of Nam Dinh’s History is simply identical to the orthodox national narrative. I think Nam Dinh can tell us a better story of its past.

ImageImage

Should a local museum perform in that way? Should “Nam Dinh” be narrated as a “subordinate” memory of a wider story? Or should people focus more on constructing history of Nam Dinh as a more active player? I realize that Nam Dinh does not stand alone, and it reminds me of the Thanh Hoa Museum as well. Such a holy land; the Dong Son Bronze Drums “were given birth” therein. At the same space, for five hundred years between the 15th and the 19th centuries, most of the dynasties, Lords, and emperors all emerged. The story could go on to Dien Bien Phu where Gen. Giap possibly would face desperate situation if Thanh Hoa’s farmers did not get involve with their rice and French bikes.

So what is missing? I guess the idea that how to de-centralize the way public memory being promulgating at those local museums, creating a new space for local dynamism, and celebrating regional diversity which going beyond any single national exhibition. Instead of talking about Nam Dinh or Thanh Hoa in a centralized perspective, let take them down for a second and there will be more to commemorate than how many times a person from capital city visited the place and what he said. Nam Dinh and Thanh Hoa are two special places in premodern Vietnamese history where local autonomies dramatically emerged. Their dynamics pasts can be a fascinating theme for public memories which is currently missing.

Image

So how the story relates to Hamburg? Hamburg museum can provide some ideas in narrating the local in the global context. Given the fact that Germany has a long decentralized history (even until today), their model of a local museum (Heimatmuseum /Stadtmuseum in German) shows an alternative way public memory being constructed by recalling various element of the past that do not necessarily engage with the making of German nation. The city plays as a leading port of the area of the present-day northern Germany for centuries, and definitely it has more to remember than just a part of modern German nation state. By casting the image of Hamburg in the age of commerce in early modern Europe, industrial revolution, modern navigation, colonialism, and globalization, the museum provides a wonderful example of local response to global factors.

ImageImage

IMG_1921

IMG_1859

 

IMG_1752

Can Vietnam create such space for missing local voices?

Blog at WordPress.com.

Up ↑